Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2015

Chúng Ta chọn đứng bên nào của Sự thật?

Nguyệt Quỳnh

Sau một loạt các trấn áp của lãnh đạo CSVN nhắm vào các trang mạng xã hội, bằng cách liên tiếp bắt giam các blogger Ba Sàm, Bọ Lập, Nguyễn Ngọc Già … báo “lề dân” vẫn tiếp tục mọc rễ và vươn cành. Các blogger khác vẫn ngoan cường, cứng cỏi, tuyên bố sẵn sàng đối mặt với tù tội.

Nhà văn Phạm Đình Trọng gọi thời đại này là Thời ngục tù. Ông viết: Năm tháng qua đi nhưng thời ngục tù đau đớn này sẽ còn mãi trong trang sách lịch sử. Thân phận lầm than của đất nước, thân phận bèo bọt của người dân, thực tế nhức nhối của xã hội đã không thể câm lặng mãi trong tâm hồn nhạy cảm của các nhà văn, dù họ biết họ có thể là nạn nhân kế tiếp. Viết, đối với nhà văn Phạm Đình Trọng và đối với các blogger vừa như là sự đòi hỏi của cái riêng, vừa là trách nhiệm với cái chung.

Để mong tô đậm thêm nữa tác động khủng bố lên các nhà văn, ngày 14/01/15 ông thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn và Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Sỹ Dũng cùng xuất hiện trên truyền hình VTV1. Họ cảnh báo rằng hàng trăm trang mạng có máy chủ ở nước ngoài đang sử dụng chiêu bài nguy hiểm nhằm xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu Đảng, Nhà nước và các cấp lãnh đạo, gây chia rẽ, làm giảm sút niềm tin của dân đối với Đảng.

Nhưng những nhà hoạt động Việt Nam lại nhìn khác. Khi những con người chỉ với cây bút và bàn phím trong tay, bằng tất cả mọi nỗ lực trong cô đơn, kể cả chịu bị đánh đập đến đổ máu, chịu tù tội, đã buộc cả guồng máy tuyên truyền khổng lồ của nhà nước phải xôn xao đối phó, thì các blogger và sự thật đã chiến thắng. Khi Ban Tuyên giáo Đảng phải công khai chỉ thị cho đội ngũ chuyển sang hướng "minh bạch để giành trận địa thông tin", thì rõ ràng báo lề dân đã thắng hiệp 1.

Đề cập đến mức ảnh hưởng của làng dân báo ông Trương Minh Tuấn vừa thú nhận vừa cố tình đánh hỏa mù:

"Có thể gọi chung đây là tội phạm không gian ảo, vi phạm pháp luật VN. Loại tội phạm này có thể bị xếp vào những nguy cơ đe dọa an ninh lớn nhất cho đất nước. Như ở Anh tội phạm này bị xếp ngang hàng tội phạm tấn công khủng bố, thảm họa hạt nhân...".

Ông Trương Minh Tuấn quen lối phát biểu xem thường dư luận, xem thường trí tuệ của người dân. Trong khi ba ngày trước đó, những thông tin trên khắp các trang mạng xã hội cho thấy Thủ tướng Anh, ông David Cameron đang cùng 40 vị lãnh đạo thế giới dẫn đầu đoàn tuần hành ở Pháp để cổ vũ cho quyền tự do ngôn luận. Ông Tuấn tiêu biểu cho giàn lãnh đạo CSVN, vẫn muốn tiếp tục chính sách ngu dân bằng bưng bít thông tin, vẫn muốn cai trị dân bằng bạo lực, nên phải lấy dối trá làm phương châm hàng đầu. Quả thật, đây chính là cuộc chiến cam go mà người dân VN phải đối mặt. Cuộc chiến giữa sự thật và dối trá, giữa lương tâm và họng súng.

Nhà văn Pháp Emile Zola bảo rằng: “Nếu anh bịt miệng sự thật và chôn nó xuống đất, nó sẽ phát triển, và tập hợp sức mạnh dữ dội của chính nó để một ngày khi nó mọc lên, nó sẽ thổi bay mọi thứ”.

Sự thật bị chôn dấu hàng bao lâu nay đang chứng tỏ sức mạnh dữ dội của chính nó. Và làng “dân báo”, càng ngày càng lớn mạnh với hàng trăm những con người chịu vác thập tự để được đem sự thật đến với cuộc đời. Dù cô thế, dù thiếu phương tiện so với lực lượng báo đài của đảng, báo “lề dân” đang trở thành nỗi lo sợ lớn của lãnh đạo CS. Nỗi lo sợ đó bao gồm những sự thừa nhận sau đây:

- Đảng đã phải thừa nhận chính sách bưng bít thông tin từ ngày lập Đảng đến nay đã thất bại, dù với bao nhiêu công an mạng đi chăng nữa. Đặc biệt vì hiện có rất nhiều chuyên gia điện toán trên thế giới luôn nghĩ ra các cách vượt rào cản để tặng không cho nhân dân các nước đang bị độc tài cai trị.

- Đảng đã phải thừa nhận lực lượng 80 ngàn Dư luận viên hàng ngày đi chửi bới, cố đánh lạc hướng dư luận cũng đã thất bại. Tệ hơn nữa, hàng ngũ này chỉ tạo thêm các tác động ngược. Người dân ngày càng khinh rẻ cả Dư luận viên và những kẻ thuê mướn họ.

- Đảng đã phải thừa nhận hiện tượng người dân đang ngoảnh mặt đi với hệ thông truyền thông quốc doanh khổng lồ, sử dụng hàng vạn phóng viên, được nuôi dưỡng bằng tiền thuế của dân, nhưng không phục vụ dân mà lại phục vụ Đảng (Hơn 800 tờ báo, hàng trăm Đài Phát thanh, Truyền hình, Cổng thông tin điện tử...). Họ kéo nhau đi nơi khác tìm sự thật từ các trang mạng Quốc tế đến các nguồn thông tin do chính dân chúng khai thác, tự dịch thuật, tự tổng hợp, tự bình luận vô cùng đa dạng, phong phú. Đó chính là làng dân báo. Không những thế, người dân nay còn định ra công thức chung: cứ chuyện gì Ban Tuyên giáo ra chỉ thị cho báo đài chối cãi càng nhiều thì chuyện đó càng chính xác theo chiều ngược lại. Đơn cử một thí dụ như trường hợp ông Nguyễn Bá Thanh thì rõ.

Nhưng có lẽ phải đọc các phát biểu của thứ trưởng Tuấn cùng với nhiều bài vở khác của Ban Tuyên giáo gần đây cũng như những lời dặn dò của ông Nguyễn Tấn Dũng với công an mới thấy đủ chính sách "minh bạch" của Đảng. Đó là phải làm chủ thông tin bằng cách không chặn tin nữa nhưng chủ động tung tin theo chiều của Đảng; hoặc chủ động minh bạch phần tin nào không hại cho Đảng. Nếu thế thì cũng chẳng đổi mới là mấy. Ai cũng biết cách đó sẽ chỉ cứu vãn tình hình trong một thời gian ngắn thôi, vì hiện có nhiều nguồn khác cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác, tức minh bạch 100%. Một khi người dân nhận ra Đảng chỉ "minh bạch một nửa" hay "minh bạch một chiều" thì số lượng độc giả gia nhập báo “lề trái” còn đông và nhanh hơn nữa. Có ai muốn phí thời giờ đưa đầu óc mình cho Đảng rót các thông tin nghiêng lệch, cắt xén vào không? Và như thế thì có khác gì mấy tình trạng hiện giờ?

Dù chính sách tuyên truyền kiểu mới của Đảng chỉ vừa bắt đầu, nhiều người dân Việt đã bày tỏ thái độ chán chường về cái "lòng thành nửa mùa" đi kèm đủ thứ hăm dọa trên báo Đảng. Điều dân khao khát là sự thật, là quyền được biết về những chính sách của Chính phủ, những sự việc có liên quan trực tiếp đến vận mệnh đất nước và của chính họ, kể cả những dữ kiện được Đảng cho là “nhạy cảm” như nội dung Hội nghị Thành Đô, các văn bản ký kết về Hiệp định Biên giới Việt Trung, ... Ngày nào những đòi hỏi đó chưa được đáp ứng, ngày đó Đảng còn tiếp tục phải đối mặt với làng dân báo. Cái trận địa mà Đảng gọi là “chiến tranh thông tin truyền thông” đó chẳng ở đâu xa, chẳng phải từ “thế lực thù địch” nào cả. Họ là dân, nơi mà rất nhiều người đã từng hết lòng yêu Đảng và từng đặt hết niềm tin vào Đảng. Giờ đây, niềm tin đưa Đảng lên ngôi đó đã cạn, đã chết lịm khi người ta biết Đảng lợi dụng niềm tin nơi người dân chơi trò lừa bịp mấy chục năm qua.

Đến nước này Đảng chỉ còn có hai chọn lựa:

· hoặc là phải mở tung hẳn cánh cửa truyền thông ra. Bỏ hẳn cái trò "800 báo đài với chỉ một tổng biên tập" đi.

· hoặc phải chấp nhận đứng nhìn cảnh: toàn dân chỉ dùng báo đài công cụ làm phương tiện giải trí hay giấy gói hàng; còn khi cần các tin tức đúng đắn, mọi người sẽ chỉ đọc các nguồn do báo “lề dân” cung cấp.

Nhìn những gì vừa xảy ra trên "mặt trận thông tin", ai còn dám bảo người dân “tay không” thì không thể tạo áp suất đổi thay. Khi phương pháp Đấu tranh bất bạo động được nhiều cùng áp dụng, thế lực độc tài sẽ bị dồn vào chỗ bí. Họ buộc phải thay đổi hay phải bỏ chạy. Nhiều dân tộc đã khám phá ra công thức này trước chúng ta.

Cuộc đọ sức hiện nay - dù muốn hay không - vẫn ảnh hưởng đến và bao gồm tất cả mọi người dân Việt. Một là, ta kiên trì, dũng cảm đấu tranh cho sự đổi thay. Hai là, ta chấp nhận trở thành nạn nhân, dự phần cùng những bóng đen câm lặng trong sự tụt hậu của đất nước mình. Chúng ta chọn đứng bên nào của Sự thật?

N.Q.

Tác giả gửi BVN

Khó đình công hợp pháp

Mai Chi

Hàng ngàn cuộc đình công giai đoạn 2009-2014 được cho là bất hợp pháp vì không có Công đoàn lãnh đạo và không tuân thủ trình tự luật định

Tại hội thảo Công đoàn (CĐ) tham gia phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động và đình công do Tổng LĐLĐ Việt Nam phối hợp với Viện FES của Đức tổ chức mới đây, một đại biểu đề xuất: “Để khuyến khích các cuộc đình công đi vào khuôn khổ pháp luật, tổ chức CĐ nên tặng bằng khen cho các CĐ cơ sở, CĐ cấp trên tổ chức được nhiều cuộc đình công hợp pháp nhất”. Đề xuất này được đánh giá là mới mẻ song ông Mai Đức Chính, Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam, thẳng thắn thừa nhận khó có thể tổ chức đình công hợp pháp vào thời điểm này do vướng cơ chế.

Không đúng trình tự

Theo thống kê của Tổng LĐLĐ Việt Nam, từ năm 2009 đến 2014, có 3.104 cuộc ngừng việc tập thể xảy ra ở 40 tỉnh, thành cả nước, tập trung chủ yếu ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, Long An… và các tỉnh, thành phía Bắc: Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng. Ngừng việc tập thể xảy ra nhiều ở các doanh nghiệp (DN) có vốn nước ngoài với 2.337 cuộc (chiếm 74,9%), trong đó nhiều nhất là Đài Loan và Hàn Quốc. Theo ông Mai Đức Chính, bình quân mỗi năm xảy ra từ 300 đến 450 cuộc ngừng việc và hầu hết mang tính tự phát, không đúng trình tự; không do CĐ tổ chức, lãnh đạo. Đây là điều rất đáng quan ngại.

clip_image001

Công nhân một doanh nghiệp ở KCN Tân Tạo (TP HCM) ngừng việc phản đối bị ép tăng ca quá mức (Ảnh Mai Chi)

Đại diện LĐLĐ tỉnh Đồng Nai cho rằng đình công đúng luật phải do CĐ cơ sở tổ chức song hoạt động của nhiều CĐ cơ sở hiện nay chưa hiệu quả. Chủ tịch CĐ cơ sở hầu hết đều kiêm nhiệm và hưởng lương từ người sử dụng lao động (NSDLĐ) nên ngại va chạm, sợ bị ảnh hưởng đến việc làm và quyền lợi. Bên cạnh đó, theo ông Lê Trọng Sang, Trưởng Ban Quan hệ lao động Tổng LĐLĐ Việt Nam: “Các cuộc ngừng việc thời gian qua đều kết thúc với kết quả là NSDLĐ đáp ứng hầu hết yêu sách của người lao động (NLĐ) dẫn đến việc hình thành nhận thức trong đại bộ phận NLĐ rằng ngừng việc là cách nhanh nhất, dễ nhất để đạt được yêu sách. Từ đó, ngừng việc tập thể trở thành phương thức đầu tiên mà NLĐ sử dụng để đấu tranh với NSDLĐ chứ không phải vũ khí cuối cùng”.

Vướng luật

Ngoài nguyên nhân kể trên thì những quy định về trình tự, thủ tục đình công chưa phù hợp cũng góp phần cản trở đình công hợp pháp. Bộ Luật Lao động quy định chỉ những tranh chấp lao động tập thể về lợi ích mới được tiến hành đình công. Song, muốn đình công, cuộc tranh chấp phải trải qua hòa giải. Bước tiếp theo, nếu hòa giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện thỏa thuận thì các bên có quyền yêu cầu Hội đồng Trọng tài Lao động giải quyết. Nếu ở bước này vẫn hòa giải không thành thì 3 ngày sau, NLĐ mới được tiến hành đình công. Như vậy, để đi đúng trình tự, NLĐ phải mất 15 ngày, chưa kể thời gian thực hiện các trình tự thủ tục khác như lấy ý kiến tập thể lao động, trao thông báo cho NSDLĐ... “Do vậy, đình công trái luật không phải vì NLĐ không am hiểu pháp luật mà vì phải qua nhiều cấp, bậc; phải mất quá nhiều thời gian trong khi NLĐ không muốn chờ đợi, họ muốn các yêu sách phải được giải quyết ngay”, ông Củ Phát Nghiệp, Chủ tịch CĐ Công ty Pou Yuen (quận Bình Tân, TPHCM), nhận định.

Bên cạnh đó, theo ông Mai Đức Chính, luật quy định chỉ có CĐ cơ sở mới được quyền tổ chức và lãnh đạo đình công; những nơi không có CĐ cơ sở thì do CĐ cấp trên tổ chức, lãnh đạo theo đề nghị của NLĐ. Song luật cũng quy định tổ chức CĐ lãnh đạo đình công phải bồi thường thiệt hại cho NSDLĐ nếu cuộc đình công ấy bị tòa án tuyên là bất hợp pháp. “Thực tế, các CĐ cơ sở không đủ tiềm lực về tài chính để trả khoản bồi thường này nên chắc chắn chẳng ai dám mạo hiểm tổ chức đình công”, ông Mai Đức Chính nhấn mạnh.

Đình công không phải mối đe dọa ổn định xã hội

Ông Erwin Schweisshelm, Trưởng đại diện Viện FES tại Việt Nam, chia sẻ: Các cuộc đình công tự phát ở Đức đã kết thúc từ thập niên 70 của thế kỷ XX. Hiện nay, dù trong thời gian đình công, NLĐ được CĐ trả lương nhưng cũng hãn hữu lắm vì NLĐ coi đình công là phương tiện cuối cùng sau khi thương lượng không đạt kết quả mong muốn. Ông Erwin Schweisshelm nhận xét: “Chúng tôi không xem đình công là mối đe dọa ổn định xã hội; trái lại, chúng tôi coi kết quả đạt được từ các cuộc đình công như một thành tựu của phát triển, góp phần tạo nên tiến bộ xã hội. Bởi lẽ, từ các vấn đề đặt ra ở những cuộc đình công mà Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật có lợi cho NLĐ, chẳng hạn như đạo luật chống sa thải lao động lớn tuổi, trả lương khi NLĐ bị ốm đau...”.

M.C.

Nguồn: http://nld.com.vn/cong-doan/kho-dinh-cong-hop-phap-20150128212422869.htm

Các nhà độc tài không ngăn hỗn loạn, họ khơi dậy tình trạng đó

Raniah Salloum, SPIEGEL: Dikatatoren schützen nicht vor Chaos - sie schüren es.

Phạm Kỳ Đăng dịch

Đối với một số người những thể chế quyền uy được coi như cái nôi của ổn định. Điều ngược lại mới đúng. Bởi các nền độc tài không thể giải quyết xung đột bằng hòa bình, nên tất yếu những nền độc tài ấy dẫn đến bạo lực và vô chính phủ.

Những gì còn lại ở Mùa xuân Ả Rập thật khủng khiếp. Bạo lực và cùng quẫn đe dọa xác quyết cuộc sống của con người bên lề châu Âu tới hàng nhiều thập kỷ. Phong trào cực đoan “Nhà nước Hồi giáo” lan rộng. “Thập kỷ vừa qua đã chỉ ra rằng, có thể còn có sự tàn tệ hơn là chuyên chế: Nội chiến và Hỗn loạn”, nữ đồng nghiệp Christiane Hoffmann viết như vậy trên tờ SPIEGEL và trang SPIEGEL ONLINE. Cứ như ổn định là một giá trị tự thân, và phải chăng nó được đảm bảo bởi những “nền chuyên chế có khả năng hoạt động”vậy?

Suy nghĩ này lảng tránh một vấn đề cơ bản: Đối với một giai đoạn nào đó, những nền độc tài chỉ bảo đảm cho một thứ ổn định – dựa trên xương máu của nhiều mạng người. Luôn rồi đến một lúc nào đó chúng sụp đổ. Thường chúng kết thúc trong tình trạng hỗn loạn mà chúng vốn hứa hẹn bảo toàn cho người ta tránh được.

Hỗn loạn và chiến tranh là hậu quả của các nền độc tài

Bởi vì trong các nền độc tài không có những cơ chế để giải quyết các vấn đề tranh chấp một cách hòa bình. Vấn nạn bị đè nén thật lâu cho tới khi hệ thống sụp đổ bởi sự thể ấy. Chỉ một xung đột nhỏ có thể đưa một nền độc tài đi tới bờ vực thẳm. Nhiều người trẻ tuổi đổ xô ra thị trường lao động không có đủ công ăn việc làm cho họ, thế là đủ. Quá sức các nhà độc tài.

Không thể biểu quyết bãi những kẻ áp bức. Nếu nhân dân chán ghét họ, sẽ chẳng còn gì nhiều ở những người không hài lòng. Nếu họ kéo ra đường, đạn bắn vào họ. Những nhà độc tài dạy cho dân họ rằng: Chỉ có bạo lực mới giải quyết xung đột. Đó là một tài sản gây độc đối với thời gian sau độc tài.

Nhà độc tài biến đi, thường nhà nước biến theo

Nơi đâu quyền lực không phải giải trình, nơi đó sự cám dỗ lạm quyền đặc biệt lớn. Thế vào chỗ đứng của nhà nước là những cơ cấu giống như Mafia. Tham nhũng khoét rỗng những thiết chế, cho tới lúc hầu như không còn gì để lại cả. Nhà độc tài biến đi, do đó cũng biến đi cả nhà nước nữa. Những nhà nước đình trệ luôn là kết quả của nền thống trị độc tài – và bây giờ chăng hẳn chúng phải phục vụ cho sự bao biện?

Vẻ như Christiane Hoffman tin tưởng rằng, hoặc con người vốn sinh ra đã là những người theo dân chủ hoặc là không. Đây là một sự nhầm lẫn. Phần nào ở nước Đức họ cũng vẫn là những con người ấy trong những năm ba mươi (của thế kỷ trước) từng để cho cuộc thử nghiệm dân chủ thất bại và sau này trong những năm năm mươi đã giúp thử nghiệm này đi đến thành công. Giữa hai khoảng thời gian đó là nền độc tài tàn tệ nhất của lịch sử loài người.

Rất khó gây dựng nên một nền dân chủ trên đống hoang tàn của sự thống trị quyền uy. Thế mà lịch sử dạy cho rằng điều này khả thể. Cho đến vài ba thập kỷ gần đây toàn bộ Đông Âu và phần rộng lớn của Nam Mỹ gồm nhan nhản những nền độc tài. Giờ đây là những nền dân chủ vận hành khá hơn hay tệ hơn, nhưng ít nhất còn xa mới đến tình trạng vô chính phủ được cho là đáng khiếp sợ.

R. S.

Về tác giả: Raniah Salloum, sinh năm 1984, nghiên cứu Chính trị và Kinh tế tại Đại học Tổng hợp Sciences Po Pháp và Cornell University, New York, Mỹ. Từ 2012 là Biên tập viên mục Chính trị của Spiegel Online.

Dịch giả gửi BVN.

Vì sao công nhân công ty Sunny Wide đình công?

Tường An (thông tín viên RFA)clip_image006

Gần 700 công nhân của công ty trách nhiệm hữu hạn Sunny Wide đã đình công hôm 26 tháng 1 để phản đối việc công ty chỉ trả 50% của lương tháng thứ 13. Photo courtesy of Lao Động Việt

Người có tay nghề mới đình công

Như các thông tin đã loan, kể từ ngày thứ hai, 26 tháng 1 gần 700 công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sunny Wide đã đình công để phản đối việc công ty chỉ trả 50% lương tháng thứ 13. Một công nhân tham gia đình công cho biết lý do:

“Công ty của em là công ty có nhiều cổ phần, họ cắt giảm lương tháng thứ 13 chỉ còn 50 % nên công nhân đình công phản đối. Mấy ngày đầu đình công, ngày nào cũng có em đi hết, cho nên em mới biết là lúc sáng vô là 7.30 giờ làm việc, nhưng công nhân ở ngoài, nói chuyện vòng vòng, không ai vô hết, chỉ khi mấy người già, mấy người tổ trưởng, mấy người không có tay nghề, thợ phụ, còn mấy người có tay nghề không có vô làm”.

Sau 3 ngày đình công, đại diện công ty đồng ý lên 80% lương tháng thứ 13, tuy nhiên công nhân không đồng ý với giải quyết này mà đòi được hưởng 100% lương như đã hứa nên tiếp tục đình công. Vẫn người công nhân này cho biết:

Những thành phần đình công là những thành phần có tay nghề, không sợ bị đuổi, dễ xin việc làm chỗ khác, nên phải đình công họ mới sợ.
-Một công nhân

“Nguyên ngày thứ hai đầu tuần, công nhân đình công, đình công xong 1 ngày, cũng vẫn vậy, xong đến ngày thứ ba, ngày thứ tư họ kêu họp công nhân lại, đưa lên 80%, công nhân vẫn tiếp tục đình công”.

Công ty SunnyWide, cơ sở tại đường N8, KCN Mỹ Phước 1, Bến Cát, Bình Dương, là một Công ty trách nhiệm hữu hạn, được thành lập từ năm 2005 chuyên sản xuất và gia công hàng may mặc với vốn đầu tư 100% cổ phần từ vốn nước ngoài. Sau 3 ngày đình công, đại diện công ty hứa với công nhân là sẽ liên hệ với Tổng giám đốc của công ty ở nước ngoài, và phải đợi ông này qua rồi mới có hướng giải quyết:

“Bữa đó có một người quản đốc, cấp tổ trưởng, quản lý, kêu công nhân vô làm, mọi người không dám nói, kêu em đứng ra nói dùm, em nói là tại sao hứa hoài mà không dán thông cáo cho công nhân đi làm, người đó nói là chờ ông Tổng bên nước ngoài qua rối mới dán thông báo cho công nhân biết”.

Chúng tôi có điện thoại về số 0650567261 của công ty SunnyWide để hỏi kết quả, nhưng không có ai bắt máy.

Được biết không phải công nhân nào cũng tham gia đình công mà phần lớn là công nhân có tay nghề lâu năm, không bị đuổi việc mới dám tham gia đình công, còn những công nhân lớn tuổi, hoặc mới vào làm việc thì vẫn đi làm bình thường. Lý do, theo anh công nhân là vì những thành phần làm việc lâu năm, có kinh nghiệm nên dễ kiếm việc làm, họ không sợ bị đuổi:

“Những thành phần đình công là những thành phần có tay nghề, không sợ bị đuổi, dễ xin việc làm chỗ khác, nên phải đình công họ mới sợ”.

clip_image007

Gần 700 công nhân của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sunny Wide đã đình công hôm 26 tháng 1 để phản đối việc công ty chỉ trả 50% của lương tháng thứ 13. Photo courtesy of Lao Động Việt.

Và anh công nhân cũng cho biết, việc đình công diễn ra bên ngoài công ty chứ không diễn ra trong công ty như một số thông tin đã loan:

“Đình công ở ngoài thôi chứ không có vào công ty, đến hết giờ làm việc thì các bảo về đuổi công nhân đình công ra về hết”.

Vào ngày đình công thứ tư, thì tất cả các công nhân cho biết họ không đồng ý nhận 80% lương tháng thứ 13 như đề nghị của đại diện công ty và cho biết sẽ tiếp tục đình công để đạt được nguyện vọng của mình. Tuy nhiên, sang đến ngày thứ năm, khi chúng tôi liên lạc lại thì được biết công nhân đã đi làm trở lại vì đa số công nhân ở xa, ngày Tết lại gần kề, họ sợ không có tiền ăn Tết nên chấp nhận thà có 80% còn hơn là không có gì cả nên đã chấp nhận đi làm lại:

“Nói chung là trong công ty công nhân đã đi làm lại hết rồi… Tại vì gần tết rồi, công nhân muốn đi làm kiếm tiền về ăn tết với gia đình; đình công hoài không có tiền về ăn Tết với gia đình. Chỉ còn có 20% thôi, người ta vẫn có thể chấp nhận bỏ. Chỉ còn có mười mấy ngày nữa là Tết, đình công thì lấy tiền đâu mà về ăn Tết với gia đình nên người ta phải ép bụng đi làm chứ cũng không muốn hưởng 80% lương”.

Đến hẹn lại đình công

Những ngày cuối năm, hầu như năm nào cũng xảy ra các cuộc đình công của công nhân do mâu thuần về tiền thưởng Tết hoặc lương tháng thứ 13. Tại công ty Dinsen, ngày 13 tháng 1 vừa qua, hơn 5.000 công nhân cũng đã đình công vì không đồng ý công ty thay đổi cách tính tiền thưởng Tết cho công nhân làm cho công nhân lâu năm bị thiệt thòi gần 4 triệu đồng.

Chỉ còn có mười mấy ngày nữa là Tết, đình công thì lấy tiền đâu mà về ăn Tết với gia đình nên người ta phải ép bụng đi làm chứ cũng không muốn hưởng 80% lương.
-Một công nhân

Theo điều 103 của Bộ Luật Lao động năm 2012, tiền thưởng là "khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công khai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở".

Điều này có nghĩa là công ty chỉ thưởng cho công nhân tuỳ theo kết quả sản xuất của công ty cũng như mức độ hoàn thành công việc của công nhân chứ không bắt buộc phải trả thưởng khi công ty làm ăn thua lỗ, trừ trường hợp hợp đồng lao động có ghi rõ thỏa thuận về tiền thưởng thì chủ mới bắt buộc phải thực hiện.

Riêng về lương tháng thứ 13 thì theo Luật Lao động Việt Nam trước năm 2000 đã quy định các doanh nghiệp sử dụng lao động phải có chế độ lương hợp lý, theo đó, thay vì người lao động hưởng lương trọn vẹn theo tháng hay ngày, thì sẽ có 1 khoản được trích khấu lại làm quỹ dự phòng, bảo hiểm cho họ. Sau 12 tháng làm việc, nếu người lao động không xảy ra sự cố gì, thì doanh nghiệp phải trả đủ khoản tiền “tiết kiệm” lao động ấy cho họ, gọi nôm na là lương tháng 13. Như vậy, ngoài 12 tháng lương, lương tháng thứ 13 được coi là tiền tiết kiệm của công nhân trong năm.

Từ các quy định trên cho thấy, việc thưởng lương tháng 13, thưởng Tết… phụ thuộc vào nhiều điều kiện như lợi nhuận của công ty, quy chế của công ty, tuỳ theo hợp đồng lao động… Do những quy định nhập nhằng như thế nên khi xảy ra mâu thuẫn giữa công nhân và công ty về tiền thưởng Tết hoặc lương tháng thứ 13 thì công ty thường dựa và lý do công ty thua lỗ. Tuy nhiên, công nhân vẫn phàn nàn là không hề được tiếp cận thông tin chính xác về lợi nhuận của công ty, thì làm sao biết công ty lời hay lỗ. Công ty than lỗ, nhưng công nhân thì vẫn phải tăng ca đều đều. Một công nhân nói:

Vì vậy, việc trong sáng, minh bạch về hợp đồng lao động, cũng như cho công nhân có điều kiện tiếp cận với tình hình tài chánh của công ty là cần thiết để tránh những mâu thuẫn xảy ra giữa công nhân và công ty về tiền thưởng cuối năm trong những ngày cận Tết.

T.A.

Nguồn: http://fardoex.nu/index.php?q=aHR0cDovL3d3dy5yZmEub3JnL3ZpZXRuYW1lc2UvaW5fZGVwdGgvc3RyaWtlLWF0LXN1bm55LXdpZGUtdGEtMDEzMDIwMTUxMTA3MzUuaHRtbA%3D%3D

Lệnh trừng phạt

DÂN TRÍ

Các cú sốc kinh tế khiến Nga thiệt hại ở hiện tại vào khoảng 200 tỷ USD. Giá dầu lao dốc là nguyên nhân đầu tiên khiến nguồn thu bị giảm mạnh. Tất cả các chuyên gia đều nhận định rằng, tình trạng này sẽ tồn tại trong một thời gian dài.

clip_image002

Trong một thông báo ngày 27/1, Chính phủ Nga cho biết, Thủ tướng Nga, ông Dmitry Medvedev đã thông qua kế hoạch trị giá 2,34 nghìn tỷ rúp (34,8 tỷ USD) nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế và khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ việc giá dầu tụt dốc và các lệnh cấm vận từ phương Tây đối với Nga.

Khoản tiền gần 35 tỷ USD mà Chính phủ Nga thông qua đã bao gồm số tiền 1 nghìn tỷ rúp (15 tỷ USD) dành để cứu ngành ngân hàng nước này (đã được thông qua hồi năm ngoái) đang trong thời kỳ khó khăn.

Thứ Sáu tuần trước (23/1), Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Nga (Russia’s Agency for Deposit Insurance) đã công bố danh sách 27 ngân hàng được vay tiền từ chương trình trợ giúp nền kinh tế. Trong đó có VTB Group (4,5 tỷ USD, khoảng 310 tỷ rúp), Otkrytie Group (1 tỷ USD, khoảng 65,1 tỷ rúp) và Vneshecombank (VEB) vay 300 triệu USD, tương đương 20,4 tỷ rúp.

Như một phần của kế hoạch, Nga cũng sẽ thành lập một ngân hàng mua nợ xấu của các doanh nghiệp và các khoản thu khó giải quyết của các công ty. Ngân hàng Trung ương Nga mới đây cho biết, nợ xấu của hệ thống ngân hàng Nga đang ở mức 3,8% tại thời điểm đầu tháng 12/2014. Tuy nhiên, Moody đã chỉ ra rằng, con số này phải lên đến 7,5% và sẽ tăng gấp đôi trong năm nay.

Không chỉ hỗ trợ giải cứu các ngân hàng đang gặp khó khăn, chương trình trên còn bao gồm cả việc cắt giảm chi tiêu ngân sách để hỗ trợ kinh tế nội địa. Hôm 27/1, Thủ tướng Dmitry Medvedev cho biết, ngoài ngân sách dành cho quốc phòng, hỗ trợ nông nghiệp và hoàn thiện các cam kết với cộng đồng quốc tế, các khoản chi khác đều sẽ giảm xuống 10%.

Tổng thống Nga Putin và các thành viên Chính phủ đều ủng hộ kế hoạch này. Ông Putin cho rằng, phải ưu tiên hàng đầu đến sự bình ổn xã hội và “kế hoạch này chỉ thành công khi các giới hạn của kinh tế được bảo đảm”.

Mới chỉ có 22 trong số 60 hạng mục trong kế hoạch được định giá, vì vậy con số cuối cùng của chương trình kích thích kinh tế này có thể lớn hơn nhiều so với 2,34 nghìn tỷ rúp, trong đó có các hạng mục rất khó để định giá tài chính.

Người dân Nga đang mong đợi con số chính thức sẽ được công bố vào tháng 3/2015, sau khi có sự nhất trí của các quan chức và các thành viên Hội đồng Liên bang. Thủ tướng Medvedev đã tiến hành gặp gỡ các lãnh đạo địa phương vào hôm thứ Tư (28/1) nhằm thảo luận về việc tiến hành kế hoạch trên tất cả các khu vực của Liên bang Nga.

Hiện tại, tỷ giá USD/RUB đang giao dịch: 1 USD đổi được 67,38 rúp (mức giá cao nhất trong ngày đạt tới là 1 USD đổi 67,97 rúp lúc mở cửa). Đồng rúp đã tăng khoảng 1% sau tin tức về chương trình giải cứu nền kinh tế của Chính phủ được phát ra (theo số liệu trên Fxstreet).

Có thể nói, chương trình trị giá 35 tỷ USD này là một tin vui đối với nền kinh tế Nga vốn đang phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ. Trong bài phát biểu hôm 28/1, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nga, ông Anton Siluanov cho biết, nền kinh tế Nga ước thiệt hại khoảng 200 tỷ USD do giá dầu tụt dốc và phải chống đỡ với các lệnh trừng phạt từ phương Tây.

Ông cho biết thêm: “Các cú sốc kinh tế khiến thiệt hại ở hiện tại vào khoảng 200 tỷ USD. Giá dầu lao dốc là nguyên nhân đầu tiên khiến nguồn thu bị giảm mạnh. Tất cả các chuyên gia đều nhận định rằng, tình trạng này sẽ tồn tại trong một thời gian dài”.

Trước đó, cuối ngày 26/1, Cơ quan xếp hạng tín dụng Standar & Poor (S&P) đã hạ mức tín nhiệm đối với Nga xuống còn BB+ (mức không nên đầu tư) với cảnh báo về khả năng tăng trưởng yếu. S&P cho biết viễn cảnh tăng trưởng kinh tế của Nga đã suy yếu trầm trọng và khả năng linh hoạt về chính sách tiền tệ rất hạn chế. S&P dự báo nền kinh tế Nga sẽ giảm 2,6% trong năm 2015 do giá dầu sụt giảm và cấm vận của phương Tây.

S&P là hãng xếp hạng tín dụng phương Tây đầu tiên hạ bậc tín nhiệm Nga xuống mức “rác”. Trước đó, cả Fitch và Moody’s cũng đều đưa ra cảnh báo tương tự.  Ngay sau khi S&P đưa ra đánh giá trên, TTCK Nga lập tức sụt giảm 6% (theo The Moscow Times).

Dự báo, năm 2015 sẽ là một năm khó khăn với nền kinh tế Nga trước rất nhiều trở ngại. Vấn đề được quan tâm nhất hiện nay là liệu gói hỗ trợ kinh tế trị giá 34,8 tỷ USD trên có phát huy được tác dụng, giúp nền kinh tế Nga vượt qua khủng hoảng!

Theo Trịnh Hằng

Đầu tư Chứng khoán

Nguồn: http://dantri.com.vn/su-kien/nga-thiet-hai-200-ty-usd-do-gia-dau-mo-va-lenh-trung-phat-1027080.htm

Truyền thông Hồng Kông: Cổ Đình An, thư ký tâm phúc của Giang Trạch Dân đã bị điều tra

Trương Đốn (Đại kỷ nguyên)

clip_image002

Cổ Đình An, thư ký tâm phúc của Giang Trạch Dân

Truyền thông Hồng Kông vừa tiết lộ một bí mật lớn của Giang Trạch Dân: một trong những lãnh đạo cấp cao trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, thư ký của Giang là Cổ Đình An, đã bị bắt đem đi điều tra. Tuy nhiên, tin tức này vẫn chưa được cơ quan ngôn luận của Trung Cộng xác nhận.

Ngày 24 tháng 1, tờ “Tín báo”của Hồng Kông, viện dẫn một tin tức đến từ Bắc Kinh, phó Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị Thượng tướng Cổ Đình An vào ngày 23 đã bị nhân viên của Ủy ban Kỷ luật Trung ương bắt đi điều tra. Cổ Đình An trong một thời gian dài đảm nhận chức Thư ký cho Giang Trạch Dân, được biết Cổ vào ngày 22 vẫn còn có mặt ở buổi lễ tang đưa tiễn cựu phó chủ tịch Quân ủy Trương Vạn Niên.

Ngày 13 tháng 1, trang truyền thông “Viêm Hoàng xuân thu” ở Trung Quốc đại lục cho đăng bài viết dài của Thiếu tướng Trương Kim Xương, nguyên Bộ trưởng Tổng bộ Cơ sở Hậu cần, tiêu đề “Những hiểu biết của tôi về tham quan Vương Phủ Nghiệp”, đã tường thuật chi tiết việc Phó Tư lệnh Hải quân Trung Cộng Vương Phủ Nghiệp (người đã bị phán án chung thân vì tội tham nhũng) làm thế nào có thể “mang theo tội mà thăng cấp”. Bài viết dường như đã tiết lộ và điểm danh đến Chủ nhiệm Văn phòng Quân ủy Trung ương đương thời đó Cổ Đình An và Giang Trạch Dân, vốn là hậu đài cho Vương Phủ Nghiệp.

Gần đây, Tập Cận Bình, Vương Kỳ Sơn từng nhiều lần nhắc đến vấn đề “bè lũ”, “kéo bang kết phái”.

Cổ Đình An, 63 tuổi là một bí mật lớn của Giang Trạch Dân, một nhân vật chủ chốt của Đảng trong thời kỳ trước, Cổ từng có một thời gian dài bên cạnh Giang. Năm 1982, lúc Giang Trạch Dân đảm nhiệm chức Phó bộ trưởng bộ Công nghiệp Điện tử, Cổ từng là thư ký của Giang; Năm 1985, Giang nhậm chức Thị trưởng Thượng Hải, Cổ cũng là thư ký Thành ủy; năm 1989 khi Giang lên chức Tổng bí thư Đảng kiêm Chủ tịch Quân ủy, Cổ Đình An là Thư ký kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Tổng bí thư; năm 1994 Cổ Đình An được đề bạt lên chức Phó chủ nhiệm Văn phòng Quân ủy và chức Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch Quân ủy; tháng 12 năm 2003, Cổ nhậm chức Chủ nhiệm Văn phòng Quân ủy và năm 2008, được Hồ Cẩm Đào điều lên làm Phó chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị.

Trong bản tin có nói, Cổ Đình An không chỉ bị tình nghi vì đã đề bạt Vương Phủ Nghiệp, một quan chức gốc Hà Nam, là một nhân vật quan trọng của “bang phái Hà Nam” trong quân đội, mà còn bị tình nghi là kẻ đã “thông phong báo tín” cho Lại Xương Tinh trong quá khứ, để họ Lại có thể thuận buồm xuôi gió trốn ra hải ngoại.

T.Đ.

Nguồn: http://vietdaikynguyen.com/v3/31786-truyen-thong-hong-kong-co-dinh-thu-ky-tam-phuc-cua-giang-trach-dan-da-bi-dieu-tra/

Kim Jong Un chuẩn bị “thi trắc nghiệm” ngoại giao

Tú Anh

clip_image002Lãnh đạo BTT Kim Jong-un trong một chuyến thị sát bộ chỉ huy không quân của Quân đội Nhân dân Triều Tiên.REUTERS/KCNA

Lãnh đạo Bắc Triều Tiên đã nhận lời mời của Tổng thống Putin đi thăm nước Nga nhân 70 năm kết thúc Đệ nhị Thế chiến. Cuộc “thử lửa ngoại giao” đầu tiên của Kim Jong Un sau ba năm cầm quyền, do vậy, đã được giới phân tích quan sát từng chi tiết một. Nhân vật thừa kế chế độ toàn trị khép kín nhất địa cầu có lẽ chọn Matxcơva để cân bằng ảnh hưởng của Bắc Kinh và để đối đầu với anh em thù địch phương nam.

Nếu vào ngày 09/05 tới đây Kim Jong Un tham dự lễ duyệt binh tại thủ đô nước Nga nhân kỷ niệm 70 năm chiến thắng Đức Quốc xã thì đây sẽ là một sự kiện quan trọng đối với chế độ Bình Nhưỡng. Vào thời điểm này, nhiều nhân vật quan trọng có ảnh hưởng đến vận mệnh thế giới sẽ có mặt tại Matxcơva như Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, quốc gia đồng minh chính yếu của chế độ khép kín ở Bắc Triều Tiên.

Ngày 28.01 vừa qua, điện Kremli xác nhận Kim Jong Un đã nhận lời mời sang Matxcơva. Trong số khách mời còn có Tổng thống Mỹ Barack Obama, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye. Tuy nhiên, theo giới phân tích trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Nga vì hồ sơ Ukraina, Tổng thống Mỹ có thể sẽ từ chối. Lãnh đạo Hàn Quốc mà Bình Nhưỡng xem là kẻ thù chưa trả lời dứt khoát.

Dù vậy, theo AFP, mọi cuộc gặp gỡ giữa Kim Jong Un với một nhà lãnh đạo quốc tế sẽ có ý nghĩa biểu tượng. Hội đàm Kim-Putin sẽ là thượng đỉnh đầu tiên của nhân vật thừa kế chế độ được xem là triều đại Cộng sản cha truyền con nối có một không hai trong lịch sử. Đối với Trung Quốc của Tập Cận Bình, quan hệ Bình Nhưỡng - Bắc Kinh có vẻ lạnh nhạt. Năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc đã đi thăm thủ đô tư bản Seoul thay vì sang Bình Nhưỡng xã hội chủ nghĩa.

Theo nghi lễ ngoại giao, Tổng thống Nga sẽ tiếp khách mời Kim Jong Un nhưng không rõ lãnh đạo Bình Nhưỡng có muốn diện kiến Chủ tịch Trung Quốc hoặc ông Tập Cận Bình có muốn gặp cháu nội Kim Nhật Thành tại thủ đô nước Nga hay không.

Giới phân tích cũng không đồng ý với nhau về lý do thúc đẩy Kim Jong Il nhận lời mời sang thăm liên bang Nga năm 2015 này trong khi suốt ba năm qua không dám đi ra nước ngoài. Một số nhà bình luận đưa ra giả thuyết Kim Jong Un tự thấy chưa đủ bản lĩnh trên trường quốc tế nên tập trung “bình định” tình hình nội bộ trước đã mà một trong những sự kiện được biết đến là xử tử người dượng rể “nhiếp chính vương”. Một số khác thì nghĩ rằng Kim Jong Un thủ tang ba năm nên không đi công du. Thật sự thì lãnh đạo triều đại họ Kim ít đi ra ngoài. Kim Nhật Thành chỉ quanh quẩn các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa. Kim Jong Il (Kim Chính Nhật) sợ đi máy bay.

Chuyến công du Liên bang Nga vào tháng Năm năm nay có thể xem là một động thái của Bình Nhưỡng muốn giảm thiểu ảnh hưởng của Trung Quốc trong khi Matxcơva liên tục bắn tín hiệu muốn trợ giúp Bình Nhưỡng qua dự án xây đường xe lửa đổi lấy tài nguyên thiên nhiên đến 20 tỷ đôla.

Theo giáo sư Andrei Lankov, một chuyên gia về Bắc Triều Tiên thuộc đại học Kookmin, Seoul, Kim Jong Un có lẽ theo gương ông nội, trong hai thập niên 1970 và 1980, dùng lá bài Matxcơva để chống lại ảnh hưởng của Bắc Kinh. Kim Nhật Thành đã được hai nước lớn hỗ trợ rất nhiều mà không tốn kém gì để đền đáp lại. Bài học ngoại giao này chắc chắn sẽ được Kim Jong Un suy nghiệm và áp dụng lại để cứu nguy cho chế độ.

Về phần Nga, do căng thẳng giữa Nga và Tây phương sẽ kéo dài nên Tổng thống Putin tìm bạn mới kể cả những nước bị cô lập. Một yếu tố khác, quan trọng không kém, nhưng ít được để ý đó là quyết tâm thống nhất đất nước của Hàn Quốc bằng vũ khí kinh tế, thương mại và văn hóa.

Ngày 19/01 vừa qua, Seoul công bố chính sách ba điểm mà năm 2015 là năm mở đầu “kỷ nguyên” đào tạo nhân lực chuẩn bị thống nhất, đề nghị mở tuyến tàu hỏa nối liền hai miền Nam Bắc theo đề án đường sắt xuyên Siberia của Nga, cải thiện đời sống nông thôn miền Bắc, chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em, bảo vệ môi trường và hợp tác nghệ thuật văn hóa với miền Bắc. Hơn ai hết, Bình Nhưỡng thấy rõ chiến lược công tâm này đánh thẳng vào những nhược điểm của chế độ khép kín.

T.A.

Nguồn: http://vi.rfi.fr/chau-a/20150130-kim-jong-un-btt/

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

Việt Nam: Kiểm soát chặt chẽ những người ủng hộ dân chủ, phê bình chính quyền trong năm 2014

Vẫn chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm cho các nhà hoạt động

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền

(New York, ngày 29 tháng Giêng năm 2015)

Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nhận định trong Bản Phúc trình Toàn cầu năm 2015 rằng tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong năm 2014 vẫn duy trì những đặc tính của một chế độ độc đảng, với các bản án mang động cơ chính trị, người lao động không được hưởng đầy đủ quyền lợi, tình trạng công an bạo hành tràn lan và các xung đột về đất đai tiếp tục gia tăng. Chính quyền Việt Nam kiểm soát chặt chẽ tự do ngôn luận và tự do lập hội. Các blogger, những người bảo vệ nhân quyền, các nhà hoạt động vì quyền lợi lao động và đất đai, cũng như các nhà vận động cho tự do tôn giáo và dân chủ tiếp tục bị sách nhiễu, đe dọa, hành hung và tù giam.

“Trong năm 2014, Việt Nam tiếp tục vận hành ‘cánh cửa xoay’ đối với các tù nhân chính trị, phóng thích một số người nhưng lại đưa một số lượng lớn hơn những nhà hoạt động ôn hòa vào tù dưới cái mác tội phạm bị kết án”, ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu. “Nhiều vụ phóng thích nói trên được thực hiện để giành những lợi ích ngoại giao, nhưng thực tế là số người bị kết án còn cao hơn gấp đôi số được phóng thích, khiến nỗ lực trình làng một gương mặt cải cách của chính quyền Việt Nam bị ảnh hưởng trầm trọng.”

Trong bản phúc trình toàn cầu dài 65 trang, lần phát hành thường niên thứ 25 của mình, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tổng kết tình hình nhân quyền tại hơn 90 quốc gia. Trong bài giới thiệu, Giám đốc Điều hành Kenneth Roth kêu gọi chính quyền các quốc gia cần nhận thức rằng nhân quyền góp phần tạo ra một hệ tiêu chuẩn đạo đức hữu hiệu trong những giai đoạn bất ổn, và vi phạm nhân quyền có thể gây bùng nổ hoặc làm trầm trọng thêm các nguy cơ về an ninh. Việc xâm hại những giá trị cốt lõi của tự do và đối xử bình đẳng có thể mang lại những mối lợi trước mắt, nhưng rất hiếm khi tương xứng với cái giá phải trả về lâu dài.

Trong năm 2014, chính quyền Việt Nam đã đưa ít nhất 29 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến ra xét xử, và kết án họ tổng cộng 129 năm tù giam. Trong số những người bị kết án vì vận động ôn hòa có các blogger nổi tiếng Trương Duy NhấtBùi Thị Minh Hằng. Chính quyền cũng bắt giữ ít nhất 13 nhà hoạt động nhân quyền khác đang chờ điều tra và/hoặc xét xử, trong đó có các blogger nổi tiếng Nguyễn Hữu Vinh (bút danh Anh Ba Sàm), Hồng Lê Thọ (bút danh Người Lót Gạch) và Nguyễn Quang Lập (bút danh Bọ Lập).

Chính quyền đã phóng thích 12 tù nhân chính trị trước khi hết án tù. Blogger nổi tiếng Đinh Đăng Định qua đời một thời gian ngắn sau khi được thả. Nhà hoạt động pháp lý Cù Huy Hà Vũblogger Nguyễn Văn Hải (bút danh Điếu Cày) được tạm hoãn thi hành án và đưa sang Hoa Kỳ. Nếu trở lại Việt Nam, họ sẽ phải thi hành nốt thời hạn còn lại của bản án cũ.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cũng nhận xét rằng các hình thức sách nhiễu khác, như đe dọa, câu lưu và hành hung, đã trở nên trầm trọng hơn trong năm 2014. Có ít nhất 14 nhà hoạt động nhân quyền, trong đó có các cựu tù nhân chính trị Huỳnh Ngọc Tuấn, Nguyễn Bắc Truyền, Trương Minh Đức, Nguyễn Văn ĐàiNguyễn Hoàng Vi cho biết họ bị côn đồ lạ mặt tấn công và hành hung. Không có cá nhân nào bị cáo buộc hay truy tố trong tất cả các vụ nói trên.

Công an vẫn cản trở việc đi lại để ngăn không cho người dân tham dự các sự kiện liên quan đến nhân quyền và tiếp tục theo dõi các chi nhánh không được công nhận của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, các nhà thờ Tin Lành và Mennonite tại gia, và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Chỉ trong chín tháng đầu năm 2014, có ít nhất 20 người bị kết án vì đã tham gia các nhóm tôn giáo không được chính quyền phê chuẩn.

“Tự do tôn giáo không có nghĩa là tự do thờ cúng theo đúng cách được chính quyền phê chuẩn”, ông Adams nói, “mà phải là chấm dứt việc theo dõi và can thiệp vào cách thức người dân chọn để thực hành tín ngưỡng của họ”.

Tình trạng công an bạo hành, kể cả gây chết người trong khi giam giữ, đã đến mức gần như trở thành một vấn nạn tràn lan, theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Trong năm 2014, ngay cả các báo chí nhà nước, vốn bị kiểm soát chặt chẽ, cũng thường đưa tin về tình trạng bạo hành của công an. Nhiều người bị giam, giữ cho biết từng bị đánh đập để ép nhận tội, đôi khi về các hành vi họ cam đoan rằng mình không thực hiện. Trong số nạn nhân bị đánh đập có cả trẻ em. Trong nhiều trường hợp, những người chết tại nơi giam giữ của công an chỉ bị tạm giữ vì những lỗi nhỏ. Nguyên nhân cho những cái chết trong khi giam giữ do phía công an đưa ra, như được cho là tự sát, thường khó tin và gây cảm giác về một sự bao che có hệ thống.

Trong một động thái đáng khen ngợi, Quốc hội đã thông qua Công ước Chống tra tấn của Liên Hiệp Quốc (CUCTT) vào tháng Mười một. Tuy nhiên, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền bày tỏ quan ngại về việc Việt Nam bảo lưu điều 20, có nội dung yêu cầu quốc gia thành viên phải hợp tác và cung cấp thông tin để đáp ứng yêu cầu về các vụ cụ thể của ủy ban Liên Hiệp Quốc phụ trách việc thi hành CUCTT.

“Việc thông qua Công ước Chống tra tấn của LHQ là một mốc mới đối với Việt Nam, nhưng công nhiên từ chối hợp tác với LHQ về các vụ cụ thể khiến làm dấy lên câu hỏi về độ thành thực của chính quyền trong việc thực thi công ước này”, ông Adams nói. “Năm 2015 sẽ cho thấy liệu việc thông qua CUCTT có mang lại ý nghĩa thực sự cho người dân Việt Nam, hay vẫn chỉ là một chiêu PR”.


Để xem thêm báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về Việt Nam, xin vui lòng truy cập: http://www.hrw.org/vi/asia/vietnam
Muốn có thêm thông tin, xin vui lòng liên hệ:
Ở Bangkok, Phil Robertson (tiếng Anh, tiếng Thái): +66-85-060-8406 (di động); hay email:  robertp@hrw.org. Theo trên Twitter @Reaproy

Ở San Francisco, Brad Adams (tiếng Anh): +1-347-463-3531(di động); hay email: adamsb@hrw.org. Theo trên Twitter @BradAdamsHRW
Ở Washington, DC, John Sifton (tiếng Anh): +1-646-479-2499 (di động); hay email: siftonj@hrw.org. Theo trên Twitter @johnsifton

clip_image001

HRW Asia gửi BVN

TIỂU LUẬN ĐIỂM SÁCH

Vì sao họ đánh nhau: Chiến tranh tạo ra Nhà nước và Nhà nước thiết lập hòa bình bằng cách nào

Michael Mandelbaum, Foreign Affairs, 11/12, 2014

Trần Ngọc Cư dịch

MICHAEL MANDELBAUM là Giáo sư Chính sách Đối ngoại Mỹ, hàm giáo sư vinh danh Christan A. Herter, tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp thuộc Đại học Johns Hopkins và là tác giả cuốn The Road to Global Prosperity [Con đường dẫn đến thịnh vượng toàn cầu].

clip_image002

Bức tranh vẽ quanh chỗ bị một quả đạn pháo bắn trúng trong đợt tấn công của Bắc Triều Tiên vào đảo Yeonpyeong, ngày 9/4, 2014. (Damir Sagolj / Courtesy Reuters)

Sách được phê bình: War! What Is It Good For? Conflict and the Progress of Civilization From Primates to Robots [Chiến tranh! Nó có ích lợi gì? Xung đột và bước tiến của văn minh nhân loại từ khỉ đến người máy] của IAN MORRIS. Farrar, Straus, và Giroux, 2014, 512 tr. 30 USD.

Triết gia Alfred North Whitehead từng nhận xét rằng lịch sử triết học châu Âu chỉ là một chuỗi cước chú về Platon. Còn đối với Ian Morris, lịch sử thế giới có thể được hiểu là một chuỗi cước chú về Thomas Hobbes. Theo triết lý chính trị của Hobbes, trật tự chiếm một địa vị nổi bật nhất trong tất cả các tình trạng xã hội. Không có nó, sự tồn tại của loài người sẽ trở nên, như cụm từ thường được trích dẫn của ông, “bỉ ổi, đầy thú tính, và ngắn ngủi.” Trật tự, Hobbes viết, được thể hiện thông qua việc thành lập một chính phủ đầy quyền lực, mà ông gọi bằng từ “Leviathan,” theo tên một loài thủy quái khổng lồ trong Cựu Ước.

Theo cuốn sử đại cương này của Morris về tình trạng chiến tranh từ thời tiền sử đến ngày nay, trật tự xã hội phát xuất từ các chính phủ đủ mạnh để bảo vệ người dân sống dưới thẩm quyền của mình, y như phát biểu của Hobbes về nguồn gốc của trật tự. Những chính phủ này lại có xuất xứ từ chiến tranh. Đáp án cho câu hỏi được nêu ra bởi đầu sách của Morris là, chiến tranh có ích lợi cho việc tạo ra tình trạng an toàn – nói cách khác, chiến tranh có lợi cho hòa bình. Hẳn nhiên, không phải mọi cuộc chiến tranh đều “có hiệu quả” [productive], và Morris cũng nhìn nhận điều này; những cuộc chiến làm suy yếu hay làm tan rã các Leviathan đáng được gọi là “phản tác dụng” [counterproductive], vì chúng làm cho người dân dễ bị tổn thương hơn. Theo ông, lịch sử loài người đã chứng kiến những thời kỳ dài của hai loại chiến tranh này. Để chứng minh luận cứ của mình, Morris đưa ra một cái nhìn khái quát khá hữu ích về quân sử thế giới kể từ khi bắt đầu diễn ra những cuộc chiến có tổ chức, mặc dù lối tường thuật của ông gặp nhiều trở ngại khi nó tiến gần đến thời hiện tại.

MỘT LỊCH SỬ BẠO ĐỘNG

Biên khảo của Morris bắt đầu bằng những sự kiện cách đây 10.000 năm, tức là vào Thời đồ đá, khi chỉ có dăm bảy triệu người trên hành tinh này, sinh sống trong các bầy đoàn săn bắn-hái lượm nhỏ bé, thường xuyên gây chiến lẫn nhau. Trong kỷ nguyên bất hạnh này, theo các ước tính phải nhìn nhận là rất khái quát, từ mười đến 20 phần trăm dân số trên trái đất có thể dự kiến sẽ chết do bạo hành từ tay kẻ khác. Trong suốt năm thiên niên kỷ tiếp theo, các điều kiện sống được cải thiện hơn nhờ những biến chuyển lớn trong lịch sử loài người: sự ra đời của nghề nông và sự phát triển các cộng đồng định cư to lớn, đặt cơ sở trên việc canh tác đất đai. Những cộng đồng hùng mạnh nhất bành trướng và thôn tính các cộng đồng nhỏ bé hơn, bằng cách vận dụng nhiều sáng kiến quân sự khác nhau, như vũ khí bằng đồng, công sự chiến đấu, và xe tứ mã. Cuối cùng, các đế quốc lớn bắt đầu xuất hiện, như Đế chế Maurya ở Nam Á, nhà Hán ở Trung Quốc, và Đế quốc La Mã quanh Địa Trung Hải.

Những Leviathan cổ đại này làm cho đời sống người dân trở nên an toàn hơn. Đúng là, các chính phủ mạnh có khả năng và thực sự bảo vệ người dân sống trong lãnh thổ của mình, giảm thiểu việc giết người và ngăn chặn chiến tranh. Tỉ lệ tử vong do bạo động giảm bớt nhanh chóng, theo ước tính của Morris, chiếm khoảng từ hai đến năm phần trăm trong tất cả các loại tử vong. Các Leviathan còn làm cho dân chúng giàu có hơn lên. Để giải thích việc này đã diễn ra như thế nào, Morris dựa vào khái niệm “tướng cướp cố định” [the stationary bandit] của nhà kinh tế Manur Olson. Trong khi “tướng cướp lưu động” [the rowing bandit] tấn công vào các khu định cư, vơ vét càng nhiều của cải càng tốt, rồi bỏ đi nơi khác, các thủ lĩnh của những cộng đồng nông nghiệp to lớn, mặc dù không kém tham lam, vẫn ở yên một chỗ. Vì vậy họ muốn thúc đẩy sự phồn thịnh của người dân mà họ cai trị – nhờ đó, xã hội sẽ có thêm nhiều của cải để họ ăn cắp. Và vì sự phồn thịnh cần đến trật tự xã hội, các nhà cai trị bèn áp đặt trật tự lên người dân. Các lợi lộc của tướng cướp lưu động được gọi là “của cướp được” [loot]. Các tướng cướp cố định gọi những gì mà họ bòn rút được từ người dân là “thuế”; do đó lãnh địa của họ càng có hòa bình thì họ có thể thu về càng nhiều lợi tức.

Cảnh thái bình, được nuôi dưỡng bởi các đế quốc cổ đại dưới quyền cai trị của các tướng cướp cố định, không tồn tại lâu dài. Một sáng kiến quân sự đặc thù đã làm thay đổi tình hình: đó là việc sử dụng ngựa. Các toán du mục đã kiện toàn tài chiến đấu trên lưng ngựa và do đó có thể giành thắng lợi trong chiến tranh phá hoại [phản tác dụng]. Những thế lực quân sự mới này đã đóng vai các tướng cướp lưu động: họ đột kích, cướp phá, làm suy yếu, và cuối cùng triệt hạ những Leviathan. Đây là cách để Đế quốc La Mã xuống dốc và sụp đổ. Tại châu Âu, những thế kỷ tiếp theo sau đó thường được gọi Thời kỳ Tăm tối [the Dark ages]. Morris cho rằng từ ngữ này cũng có thể áp dụng cho nhiều vùng khác trên thế giới. Khi các cuộc chiến tranh phản tác dụng hủy diệt những đế quốc cổ đại, thế giới lâm vào cảnh hỗn loạn suốt 14 thế kỷ đầu của Công Nguyên. Tử suất do bạo động tăng cao trở lại, chiếm từ năm đến mười phần trăm trong số tử vong do tất cả các nguyên nhân gây ra.

Tuy nhiên, bắt đầu từ Thời kỳ Phục hưng, tình trạng rối loạn bắt đầu nhường chỗ cho một thời kỳ củng cố trật tự dài 500 năm. Thêm một lần nữa, một phát minh quân sự quan trọng – thuốc súng – đã khởi động chuyển biến này. Các nhà lãnh đạo lấy lại khả năng tổ chức các đơn vị chính trị to lớn, lần này bằng cách sử dụng các loại súng và đại pháo có hỏa lực mạnh hơn so với trước đó. Bên trong những đơn vị chính trị này, tỉ lệ dân số chết vì bạo động giảm bớt. Vào giai đoạn sau của thời kỳ này, bắt đầu từ 1760, sự biến đổi vĩ đại thứ hai trong lịch sử loài người đã diễn ra: cuộc Cách mạng Công nghiệp. Người châu Âu sử dụng các loại máy móc mà cuộc cách mạng này làm ra để phục vụ các mục đích quân sự lẫn dân sự; việc này giúp họ chiếm được nhiều vùng trong phần còn lại của thế giới vào thế kỷ 19. Cũng như trong các đế quốc cổ đại, trong các đế quốc châu Âu quan trọng của thời hiện đại – một số, đặc biệt là Đế quốc Anh, dàn trải quanh thế giới – đời sống của thần dân trở nên an toàn hơn bao giờ cả so với trước đó.

Thế kỷ 19 cũng chứng kiến sự xuất hiện của một hiện tượng mà Morris gọi là “cảnh sát toàn cầu” [globocop], một cường quốc lãnh trách nhiệm duy trì trật tự trên qui mô toàn cầu. Vương quốc Anh giữ vai trò này cho đến Thế chiến II, sau đó Mỹ chiếm địa vị của Anh. Qua lịch sử hai thiên niên kỷ của chiến tranh có hiệu quả [productive warfare], hành tinh này đã đi từ Hoà bình La Mã [Pax Romana] đến Hoà bình Anh [Pax Britannica] đến Hoà bình Mỹ [Pax Americana]. Sự tồn tại của loài người đã trở nên ngày một an toàn hơn. Tỉ lệ toàn cầu về số người chết do bạo động trong thế kỷ 21 đã xuống mức thấp hơn bao giờ cả, dưới một phần trăm số tử vong do tất cả các nguyên nhân gây ra.

TƯƠNG LAI CỦA CHIẾN TRANH

Qua một quãng thời gian lâu dài như quãng thời gian mà Morris nghiên cứu, người ta có thể tìm ra bằng chứng gần như cho bất cứ một mô hình nào, nhưng mô hình mà Morris đặt ở vị trí trung tâm trong sách của ông chắc chắn có ý nghĩa lịch sử. Các nhà nước đầy quyền lực trên thực tế đã bảo vệ người dân của mình (đồng thời cũng thường áp bức họ), và động cơ thúc đẩy sự thành hình những những nhà nước này thường là chiến tranh. “Chiến tranh là cha đẻ của mọi thứ,” triết gia Hy Lạp Heraclitus từng nhận xét, vì thế ta không nên ngạc nhiên khi một trong những đứa con của nó là hòa bình.

Nhưng, mô hình mà Morris tìm ra hình như chỉ phù hợp với quá khứ xa xưa chứ không đúng với lịch sử cận đại, đừng nói chi đến tương lai. Trong thế kỷ 20, xu thế hướng tới củng cố các quốc gia đã đi theo chiều ngược lại, với các đế quốc hiện đại thay nhau tan rã và để lại đằng sau những đơn vị chính trị nhỏ bé hơn, nhưng đời sống người dân ở đây không vì thế mà trở nên kinh tởm hơn, gần với thú tính hơn, hay ngắn ngủi hơn. Thật vậy, trong một trăm năm qua, yếu tố chủ yếu quyết định tỉ lệ bạo động của một quốc gia chính là khả năng chứ không phải là kích cỡ của nó. Các nước Bắc Âu, chẳng phải là Leviathan chút nào, đã trở thành những nơi an toàn nhất trên thế giới. Trên thực tế, các quốc gia dân tộc [nation-state] nhỏ bé đã tỏ ra ít có nguy cơ bạo động hơn những đế quốc rộng lớn đa dân tộc, nhờ ở chính nghĩa vĩ đại mà các đơn vị đồng chủng có được trước mắt người dân của mình. Cứ lẽ thường, người dân muốn được cai trị bởi những nhà lãnh đạo cùng một chủng tộc, một tôn giáo, hay một ngôn ngữ hơn bởi những kẻ mà họ coi là người nước ngoài, và họ sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ hệ thống chính trị mà họ ưa thích.

Ngoài ra, vào thế kỷ 19, viên cảnh sát toàn cầu Anh gần như không làm gì cả để làm cho đời sống ngoài biên giới đế quốc của mình trở nên an toàn hơn. Không mấy bận tâm giữ gìn trật tự cho châu Âu – phần hành tinh sẽ là nơi phát sinh những cơn bạo động gây tang thương trong thế kỷ 20 – người Anh giữ thái độ thiếu mặn mà ở đây. Hòa bình và trật tự trên châu lục này dựa trên một cán cân quân bình lực lượng giữa các quốc gia quan trọng, chứ không dựa trên các nỗ lực của Anh. Đúng là, Vương quốc Anh có dùng sức mạnh hải quân của mình để tạo ra một khuôn khổ an ninh cho một nền kinh tế càng ngày càng mang ý nghĩa toàn cầu. Trong chiều hướng này, sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính trị của Anh đã đóng góp nhiều cho việc nâng cao mức sống khắp thế giới, nhưng không giúp gì nhiều cho việc giảm bớt các rủi ro tử vong do bạo động tại các khu vực nằm ngoài Đế quốc Anh.

Xin dẫn thêm một áp dụng vụng về của mô hình Morris cho lịch sử cận đại: Thế chiến I và Thế chiến II có vẻ hội đủ điều kiện để được gọi là “chiến tranh xây dựng” theo cách Morris định nghĩa thuật ngữ này vì chúng dọn đường cho sự xuất hiện của viên cảnh sát toàn cầu Mỹ [the American globocop]. Tuy nhiên, tổng số tử vong của hai cuộc chiến này ở mức 100 triệu người có vẻ là một cái giá quá đắt phải trả chỉ để thay thế một bá quyền này bằng một bá quyền khác.

Cuối cùng, dù chiến tranh có mang lại bất cứ lợi ích dài hạn nào trong quá khứ, ngày nay ngoài một vài nơi đang có xung đột và hỗn loạn, thật khó tưởng tượng ra việc chiến tranh có thể hữu ích cho hòa bình trong tương lai. Tư duy của Hobbes và mô hình chiến tranh xây dựng mà Morris tìm ra đúng là có ý nghĩa phần nào đối với người dân tại Cộng hòa Dân chủ Congo, Iraq, và Syria, chẳng hạn, nhưng đối với phần còn lại của thế giới chúng có vẻ gần như vô nghĩa. Thế giới vẫn có khả năng trải qua tình trạng bạo động trên qui mô lớn. Những tiến bộ về công nghệ quân sự trong thế kỷ qua đã ban cho các chính phủ cái khả năng đẩy các tỉ lệ tử vong do bạo động lên cao nhanh chóng nếu họ quyết định sử dụng những vũ khí mạnh nhất mà họ có trong tay.

Morris cảm nhận mối đe dọa lớn nhất trong tương lai sẽ phát xuất từ một sự lặp lại những biến cố của đầu thế kỷ 20, khi Đức thách đố Vương quốc Anh và đẩy thế giới vào hai cuộc xung đột khủng khiếp. Ngày nay, với việc Mỹ chiếm vị trí mà Anh đã giữ cách đây một trăm năm, chính Trung Quốc là cường quốc đặt ra mối đe dọa cho viên cảnh sát đang ngự trị toàn cầu [the reigning globocop]. “Nếu 40 năm từ thập niên 2010 đến thập niên 2050 diễn ra giống như 40 năm từ thập niên 1870 đến thập niên 1910,” Morris viết, vẽ ra sự tương đồng giữa Vương quốc Anh lúc bấy giờ và Mỹ hiện nay, “đó sẽ là những năm nguy hiểm nhất trong lịch sử.” Lý do là, nếu Trung Quốc đặt ra một thách thức với Mỹ và đưa đến một cuộc chiến trên qui mô của hai thế chiến được châm ngòi bởi các tham vọng của Đức, hai bên có thể sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân mà họ có trong tay. Việc này sẽ đảm bảo rằng, dù cho những người sống sót có dùng bất cứ tính từ nào để chỉ một cuộc xung đột như thế, tính từ “có hiệu quả” [productive] sẽ không nằm trong đó.

Đối với Morris, niềm hi vọng tránh một thảm họa như thế trong thế kỷ 21 sẽ dựa vào công nghệ. Ông gợi ý, khoa điện toán đặc biệt có thể tiến bộ nhanh chóng trong những năm sắp tới đến nỗi làm biến thể loài người, đưa đến hậu quả là những sinh vật “xuyên nhân loại” [transhuman]1 hay “hậu nhân loại” [posthuman]2 có thể có khả năng vượt lên trên bạo động. Ở đây Morris dựa vào ý kiến của một số nhà tương lai học giàu tưởng tượng. Viễn kiến của họ nghe có vẻ khoa học giả tưởng, và những tiên đoán của khoa học giả tưởng lắm khi tỏ ra là chính xác. Tuy nhiên, lắm khi chúng không chính xác, và vì thế việc dựa vào sự thể hiện những viễn kiến này để tránh Thế chiến III có vẻ là thiếu thận trọng.

Còn có nhiều khả năng khác. Một trong những khả năng đó là, quan niệm về chiến tranh đã thay đổi. Ngày xưa, chiến tranh được coi là một đặc điểm tất yếu của cõi người ta [human existence], nhưng lề lối ứng xử cổ xưa này càng ngày càng bị coi là không thể chấp nhận, là lỗi thời, và có thể tránh được. Sự tàn phá khủng khiếp mà các vũ khí hiện đại có thể gây ra truyền đạt một mức độ thận trọng vào chính sách đối ngoại mà trước đây, nếu có chăng, vẫn là rất hiếm thấy trước nửa thế kỷ 20.

Hơn nữa, những cuộc đại chiến xảy ra vào nửa đầu của thế kỷ trước một phần không nhỏ đã phát xuất từ ý thức hệ, một đặc điểm của đời sống xã hội-chính trị chưa từng thấy trước Cách mạng Pháp và vì thế không nằm trong đại bộ phận lịch sử nhân loại mà Morris bàn đến. Việc Đức theo đuổi các tư tưởng phát-xít và việc Liên Xô quyết thực hiện các lý thuyết cộng sản đã biến thế giới này thành một nơi đầy máu lửa hơn là nếu không có những ý thức hệ này. Ít ra, [Cộng hòa Liên bang] Đức đã trở thành một đất nước hòa bình hơn nhiều sau Thế chiến II, cũng như một đế quốc xâm lược đầu sỏ khác trong cuộc xung đột ấy, Nhật Bản, một phần cũng vì hai nước này đã chấp nhận các tư tưởng chính trị và hệ thống chính trị của một trong những cường quốc thắng trận, đó là Hoa Kỳ. Dân chủ giúp tạo dựng hòa bình. Trên thực tế, xu thế tránh chiến tranh với nhau giữa các nước dân chủ hiện nay là rất kiên định, và nó đưa ra triển vọng là các nước có thể ngăn ngừa một cuộc đại chiến phản tác dụng trong tương lai. Nếu Trung Quốc sẽ trở thành một nước dân chủ, thì triển vọng tránh lặp lại cuộc xung đột Anh-Đức, song lần này với các kho vũ khí của thế kỷ 21, chắc chắc sẽ tốt đẹp hơn nhiều.

Không có gì bảo đảm rằng thể chế dân chủ sẽ đến với Trung Quốc trong một tương lai gần, hoặc trên thực tế việc này có thể sẽ không bao giờ xảy ra. Nhưng một Trung Quốc dân chủ có vẻ có khả năng trở thành hiện thực hơn trước, và vì thế đây mới là một cơ may tốt đẹp để gìn giữ hòa bình hơn là chờ đợi một sự chuyển hóa loài người do máy tính thúc đẩy. Chắc chắn là, việc xây dựng và duy trì trật tự, an toàn, và hoà bình thế giới thông qua sự bành trướng của thế chế dân chủ không phải là một đề tài trong tác phẩm Leviathan. Mặc dù Hobbes là một nhà tư tưởng lớn, ảnh hưởng lên nhiều thế hệ về sau, nhưng trong thời đại của chúng ta, có đủ thứ chuyện chưa bao giờ được nghĩ tới trong triết lý của Hobbes.

M. M.

Chú thích của người dịch:

1Chủ nghĩa xuyên nhân loại (transhumanism) là một phong trào văn hóa và trí thức có mục đích nhiên hậu là chuyển hóa thân phận con người bằng cách phát huy các công nghệ để gia tăng vượt bậc các khả năng tri thức, thể chất và tâm lý của con người.

2Hậu nhân loại (posthuman) là một ý niệm xuất phát từ khoa học giả tưởng hoặc tương lai học trong đó một người hoặc một thực thể đã vượt lên trên tình trạng làm người.

Dịch giả gửi BVN.

GS London: “Nội bộ lãnh đạo Việt Nam hé lộ bí mật”

Thanh Phương

clip_image002

Một cảnh bên ngoài Trung tâm hội nghị Quốc gia, nơi diễn ra Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 11, ngày 12/01/2011 Ảnh:REUTERS/Kham

Trong phần “Tạp chí Việt Nam trong dòng thời sự” hôm nay, chúng tôi xin điểm lại một số bài trên báo chí quốc tế liên quan đến Việt Nam trong tuần qua. Trước hết là một bài viết của Giáo sư Jonathan London, đại học City University of Hongkong, đăng ngày 21/01 trên trang mạng của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS), Washington DC, Hoa Kỳ, đề cập đến tình hình chính trị nội bộ Việt Nam sau hội nghị toàn thể ban chấp hàng trung ương Đảng vừa qua.

Bài viết có tựa đề “Vietnam: Open Secrets on the road to succesion” (Việt Nam: Những bí mật bị hé lộ trên con đường chọn người kế nhiệm), đề cập đến vấn đề chọn người thay thế các lãnh đạo hiện nay và cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong bối cảnh vào năm tới sẽ diễn ra Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nan lần thứ 12.

Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Hồng Kông, giáo sư Jonathan London cho rằng có hai điều đáng chú ý trong nội bộ chính giới Việt Nam hiện nay, đó là chuyện các Ủy viên Ban chấp hành Trung ương bỏ phiếu tín nhiệm các Ủy viên Bộ Chính trị, mà kết quả không được công bố và sự xuất hiện của trang mạng “Chân dung quyền lực”. Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với giáo sư London:

Giáo sư Jonathan London, Hồng Kông 23/01/2015

Từ chính trị nội bộ chuyển sang ngoại giao của Việt Nam, đáng chú ý trong tuần qua là bài viết của tác giả Phương Nguyễn, nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ( CSIS ), đăng trên trang mạng East Asia Forum ( Diễn đàn Đông Á ) ngày 21/01/2015.

Trong bài viết tựa đề « Vietnam’s careful dance with the superpowers » ( Bước nhảy thận trọng của Việt Nam với các siêu cường), bà Phương Nguyễn nhắc lại rằng quan hệ quân sự Mỹ-Việt đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Các quan chức quân sự và quốc phòng cao cấp của Mỹ nay viếng thăm Việt Nam rất thường xuyên. Năm 2011, hai nước đã ký một biên bản ghi nhớ về đẩy mạnh hợp tác quốc phòng. Đến tháng 10 năm 2014, chính quyền Obama loan báo dỡ bỏ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Quyết định này sẽ thúc đẩy việc bán vũ khí của Mỹ cho Việt Nam trong những năm tới.

Thế nhưng, theo tác giả bài viết, có nhiều yếu tố vẫn còn cản trở mối quan hệ Mỹ-Việt. Chính sách ngoại giao của Việt Nam vẫn phải tính đến “yếu tố” Trung Quốc và Hà Nội luôn quan ngại về phản ứng của Bắc Kinh trước việc Hoa Kỳ, Việt Nam thắt chặt quan hệ quân sự.

Theo tác giả Phương Nguyễn, trong khi hoan nghênh những mối lợi từ việc Hoa Kỳ quan tâm trở lại khu vực Châu Á, các nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn biết rõ rằng Bắc Kinh xem chính sách “xoay trục” của Mỹ như là một nỗ lực nhằm “bao vây” Trung Quốc.

Tác giả bài viết nhận định rằng, Việt Nam vẫn cố tránh bị lâm vào thế kẹt giữa hai siêu cường và nhiều quan chức ở Hà Nội khi nói chuyện riêng đã cho rằng tình hình hiện nay của Ukraina chính là hậu quả của một chính sách ngoại giao “không cân bằng”. Mỗi lần có một bước theo hướng tăng cường quan hệ an ninh với Hoa Kỳ, Việt Nam lại phải cố trấn an Bắc Kinh.

Bà Phương Nguyễn viết:

“ Quan hệ quốc phòng Mỹ-Việt còn rất nhiều tiềm năng và rất có thể sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ trong năm nay, với việc hai nước kỷ niệm 20 năm bình thường hóa bang giao. Nhưng có một số vấn đề mà hai bên cần phải tập trung giải quyết trong thời gian trước mắt, chẳng hạn như Hà Nội vẫn đòi dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương và vẫn muốn mua thêm vũ khí của Mỹ. Về phía Washington thì tiếp tục kêu gọi tăng cường hợp tác giữa hải quân hai nước và tăng con số chiến hạm của Mỹ ghé thăm các hải cảng của Việt Nam mỗi năm. Nhưng vì thiếu một tầm nhìn xa, cho nên Hoa Kỳ và Việt Nam chỉ có thể gia tăng hợp tác ở một cấp độ mang tính chiến thuật cho một tương lai gần”.

Một bài báo khác cũng liên quan đến Việt Nam đó là bài của hãng tin Bloomberg với tựa đề “What do the weak oil price mean for the South China Sea?" (Giá dầu giảm có ảnh hưởng gì đối với Biển Đông?), đăng ngày 21/01.

Theo hãng tin Bloomberg, giá dầu hỏa vào giữa tháng Giêng đã sụt xuống còn 46 đôla/thùng. Đây là mức sụt giảm mạnh nhất của giá dầu hỏa kể từ khủng hoảng toàn cầu năm 2008. Tình hình này buộc nhiều công ty phải ngưng các dự án bị xem là không thể có lãi với giá dầu thấp như hiện nay, cũng như khiến họ phải tính đến chuyện có nên duy trì các dự án thăm dò dầu khí biển sâu rất tốn kém.

Thế nhưng, theo Bloomberg, ở Biển Đông, nơi mà các tàu của Trung Quốc và Việt Nam đã đụng độ với nhau vào tháng 5 năm ngoái, sau khi Bắc Kinh đặt giàn khoan tại vùng biển tranh chấp, các yếu tố an ninh và chính trị sẽ khiến căng thẳng do tranh chấp chủ quyền vẫn ở mức cao và thúc đẩy các nước trong vùng gia tăng chi phí quân sự.

Hãng tin Bloomberg trích lời ông Bill Hayton, tác giả cuốn “ The South China Sea: The struggle for power in Asia” ( Biển Đông: Cuộc tranh giành năng lượng), xuất bản vào năm ngoái, cho rằng thật ra Trung Quốc dùng dầu hỏa như là một cái cớ để đòi chủ quyền quốc gia và biện minh cho đòi hỏi chủ quyền ấy, vì họ lập luận rằng Biển Đông có rất nhiều trữ lượng dầu khí cần cho Trung Quốc.

Theo các nhà phân tích, Trung Quốc sẽ không giảm đáng kể các dự án thăm dò dầu khí ở Biển Đông, nhưng với giá dầu như hiện nay, Trung Quốc cũng sẽ không gia tăng đầu tư vào lĩnh vực này. Về phần các công ty dầu khí lớn của thế giới thì vẫn trong tư thế chờ đợi, tức là chờ khi nào Trung Quốc và các nước có liên quan giải quyết tranh chấp chủ quyền Biển Đông, thì họ mới đẩy mạnh đầu tư vào vùng này.

Nhưng theo hãng tin Bloomberg, Biển Đông cũng là nơi tập trung đến 10% nguồn cá đánh bắt được trên toàn cầu và đây cũng là một trong những yếu tố gây căng thẳng ở vùng này. Hãng tin này trích lời ông Ian Storey, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, cho rằng ngoài trữ lượng dầu khí dồi dào, nhiều yếu tố khác cũng khiến tranh chấp chủ quyền Biển Đông ngày càng gay gắt. Ông nói: “Chủ nghĩa dân tộc, nỗ lực của các bên nhằm xác quyết chủ quyền lịch sử và pháp lý, cũng như thế ganh đua địa chiến lược sẽ khiến vùng này sẽ vẫn là vấn đề hàng đầu về an ninh khu vực”.

T.P.

Nguồn: http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150126-gs-london-%E2%80%9C-noi-bo-lanh-dao-viet-nam-he-lo-bi-mat%E2%80%9D/

Luật hóa chạy chức: Ngộ nhận mơ hồ?

Nguyễn Duy Xuân

Dân trí Chức nhỏ chạy nhỏ, chức to chạy to. Cái “giá trị” kiểu chạy chức chạy quyền mà PGS.TS nói ở trên được đo bằng tiền chứ không phải bằng tài năng..

clip_image001

Minh họa: Ngọc Diệp

Trong bối cảnh xã hội hiện nay, bỗng nhớ lại cách đây đúng một năm, trả lời phỏng vấn của báo chí về chuyện chạy chức mà bây giờ vẫn nóng bỏng tính  thời sự, ông Nguyễn Hữu Tri, PGS.TS, Viện phó phụ trách Viện Xã hội học và Khoa học quản lý, đã đề xuất ý tưởng “luật hóa” cho phép chạy chức chạy quyền công khai. (http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/can-luat-hoa-cho-phep-chay-chuc-chay-quyen-2214305). Lập luận mà ông PGS.TS đưa ra trong bài trả lời phỏng vấn của mình là:

- Thứ nhất: Chạy chức chạy quyền không riêng gì ở Việt Nam mà thế giới cũng đã chạy nhiều ví như “Obama phải ‘chạy’ vào Nhà Trắng, Putin phải ‘chạy’ vào nhà đỏ”.

- Thứ hai: Chạy chức chạy quyền không có gì là xấu, đó là cơ hội để người chạy “đóng góp được nhiều hơn”. Ông thừa nhận: “Bản thân tôi cũng từng nói với nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu rằng tôi cũng muốn chạy để có chức”.

- Thứ ba: Kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có cung cầu, có cạnh tranh, có giá trị thì công tác tổ chức cán bộ lẽ nào lại không vận hành theo, điều đó cũng không có gì là xấu vì nó vẫn là quan hệ cung cầu.

- Thứ 4: Nếu thiết lập theo luật định chuyện chạy chức chạy quyền thì tiền sẽ nổi lên, Nhà nước quản lý được, không chảy vào túi của riêng ai.

- Thứ 5: Tất cả những điều trên: Chạy chức chạy quyền là đương nhiên, cần luật hóa để thu tiền cho nhà nước.

Thoạt đọc, lí lẽ mà PGS.TS đưa ra có vẻ rất thuyết phục, nhưng ngẫm nghĩ lại thì thấy có một số điều cần bàn lại:

Thứ nhất, PGS.TS ngộ nhận việc “chạy” vào Nhà trắng của tổng thống Mỹ hay Nhà đỏ của tổng thống Nga cũng giống như việc chạy chức ở ta. Nhưng chuyện “chạy” vào Nhà trắng của ông Obama như thế nào cả thế giới đều biết, khác với “chạy” chức chạy quyền ở ta.

Thứ hai, chạy chức chạy quyền ở ta là có thật nhưng xưa nay đều dấm dúi giữa một nhóm người có tiền, có quyền với nhau hòng giành ghế mưu lợi cho cá nhân. Chạy như thế mà “không có gì xấu” ư, thưa PGS.TS? Vô hình chung, ông lại khuyến khích cho việc chạy chức – một vấn nạn đang làm nhức nhối xã hội hiện nay?

Thứ ba, không phải cứ vin vào cơ chế thị trường để rồi áp đặt mọi hoạt động trong xã hội cũng phải theo cơ chế này trong đó có công tác tổ chức nhân sự. Từ khi xã hội loài người có thể chế, có nhà nước, chưa thấy chế độ nào đồng tình với việc chạy chức chạy quyền cả. Thời phong kiến tuy cũng có chuyện mua bán quan tước, nhưng quan tước do mua bán chỉ là phẩm hàm mà không được trao chức vụ, nghĩa là hữu danh vô thực. Còn bây giờ, chức vụ gắn với quyền lực và bổng lộc. Chức càng to thì quyền càng lớn, lộc càng nhiều và tất nhiên, để “đấu thầu” được phải bỏ ra cả một núi tiền. Cứ làm theo đề xuất của ông thì xã hội sẽ vận hành ra sao?

Thứ tư, PGS.TS nói luật hóa chạy chức để thu tiền cho nhà nước. Ý tưởng của PGS.TS khiến tôi bỗng nhớ đến một câu nói của ông Hoài Thanh, nhà phê bình văn học nổi tiếng khi bàn về cái xã hội bị chi phối bởi đồng tiền trong truyện Kiều: “Cả một xã hội chạy theo đồng tiền”. Chả nhẽ điều đó sẽ thành hiện thực trong nay mai nếu thực hiện theo ý tưởng của PGS.TS Tri? Lúc ấy chỉ có tiền là trên hết. Hiền tài – nguyên khí quốc gia sẽ bị triệt tiêu nếu không có tiền để “chạy”?

Trong bài trả lời phỏng vấn, PGS.TS có nói đại ý: ông đã từng nhiều lần đặt câu hỏi khi giảng bài cho các học trò rằng tại sao lại phê phán việc chạy chức chạy quyền. Thế giới “chạy” được thì Việt Nam cũng “chạy” được, chẳng có gì là xấu. Và ông cũng thừa nhận chính ông cũng từng muốn chạy để có chức, có quyền. Thưa PGS.TS! nghĩ đến đã có bao nhiêu thế hệ cán bộ quản lí ông “gieo mầm” tư tưởng chạy chức chạy quyền? Nghĩ thế, bỗng thấy rùng mình. Thiện tai! Thiện tai!

Chạy chức chạy quyền đang là vấn nạn của xã hội và là một trong những nguyên nhân sâu xa của quốc nạn tham nhũng mà Đảng và Nhà nước ta đang ra sức phòng chốnghiện nay. Chức nhỏ chạy nhỏ, chức to chạy to. Cái “giá trị” kiểu chạy chức chạy quyền mà PGS.TS nói ở trên được đo bằng tiền chứ không phải bằng tài năng. Chẳng ai dại gì bỏ tiền túi ra đấu giá chức quyền, mà lại không tính đến chuyện thu hồi cả vốn lẫn lãi trong tương lai. Nguồn thu hồi vốn và lãi ấy ở đâu chẳng nói thì ai cũng biết. Và, cái ý tưởng khác người “luật hóa cho phép chạy chức chạy quyền” như trên “rằng hay thì thật là hay” nhưng xem ra… không ổn lắm cho sự tiến bộ của xã hội.

N.D.X.

Nguồn: http://dantri.com.vn/dien-dan/luat-hoa-chay-chuc-ngo-nhan-mo-ho-1026925.htm

Việt - Mỹ thân nhau: Trung Quốc lo ngại bị cô lập

BBC

clip_image002

Trung Quốc lo ngại bị “cô lập” và “bao vây” một khi Việt Nam và Hoa Kỳ cải thiện quan hệ và xích lại gần nhau, theo nhà nghiên cứu về Hoa Kỳ từ Hà Nội.

Trao đổi với Bàn tròn Trực tuyến của BBC tuần này nhân dịp Việt Nam và Mỹ đang đánh dấu tròn 20 năm hai nước cựu thù bình thường hóa quan hệ ngoại giao, PGS.TS Cù Chí Lợi, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Mỹ:

"Thật ra Trung Quốc với Việt Nam và một số nước ở khu vực Đông Nam Á hiện nay đang có vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Đặc biệt chính vì thế mà quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ cải thiện hơn, người Trung Quốc cũng có lo ngại của riêng họ là Hoa Kỳ quay trở lại khu vực châu Á thì có thể thực hiện một chính sách bao vây, hoặc là cô lập Trung Quốc”.

Trung Quốc có một số quan ngại của họ mà vì thế quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có cải thiện, thì có thể họ cũng có ý kiến, lo ngại về mối quan hệ này, rằng nó có thể ảnh hưởng đến vấn đề bao vây rồi hạn chế sự phát triển của Trung Quốc

PGS. TS Cù Chí Lợi, Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Mỹ

"Trung Quốc có một số quan ngại của họ mà vì thế quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có cải thiện, thì có thể họ cũng có ý kiến, lo ngại về mối quan hệ này, rằng nó có thể ảnh hưởng đến vấn đề bao vây rồi hạn chế sự phát triển của Trung Quốc.

Theo PGS. Lợi, ngoài vấn đề “trở ngại trong thời gian gần đây' nói trên, trong quan hệ Việt - Mỹ hiện nay còn có một trở ngại chính thứ hai, đó là vấn đề “hồ sơ dân chủ - nhân quyền” của Việt Nam mà nhà nghiên cứu còn gọi là khác biệt.

Vấn đề về dân chủ, nhân quyền là một vấn đề có từ lâu rồi, hai bên cũng có những khác biệt về vấn đề này, nhưng tôi nghĩ rằng là những vấn đề dân chủ, nhân quyền hai bên cũng đã có những trao đổi. Tôi nghĩ rằng năm 2014 vừa rồi, hai bên cũng đã có những gặp gỡ và trao đổi với nhau và có những hiểu biết nhau nhiều hơn, tất nhiên những khác biệt vẫn còn nhưng những giải quyết như ví dụ của 2014, tôi cho rằng là những ví dụ rất tốt, hai bên cùng hợp tác, ngồi trao đổi với nhau và cùng giải quyết những vấn đề về khác biệt về dân chủ, nhân quyền. Tôi cho đây là vấn đề cũng có những trở ngại nhưng cũng có những bước tiến", ông Lợi nói.

Đã tin tưởng ở nhau?

clip_image004

PGS. TS Cù Chí Lợi tin rằng quan hệ Việt - Mỹ có triển vọng tốt và hai bên ngày càng 'hiểu nhau' hơn.

Đánh giá về quan hệ Việt - Mỹ hiện nay và triển vọng, nhà nghiên cứu từ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng hiện tại hai bên đã “sẵn sàng” cho các bàn thảo đi vào các nội dung “quan trọng nhất”, “chiến lược nhất” mà hai bên cùng quan tâm.

Tuy nhiên, cũng tại Bàn tròn hôm thứ Năm, nhà báo tự do, blogger Điếu Cày - Nguyễn Văn Hải, tù nhân lương tâm mới được Việt Nam trao trả tự do và đang ở Hoa Kỳ, đặt vấn đề liệu hai bên đã thực sự có đủ “lòng tin” với nhau hay chưa, và niềm tin đó đặt trên những cơ sở nào?

Blogger Điếu Cày nói: "Thứ nhất quan hệ ngoại giao giữa hai nước với nhau thì cần quan hệ dựa trên niềm tin, và ở đây đặc biệt những vấn đề kinh tế như ý kiến của anh Đặng Xương Hùng đã nói, chúng ta có thể đàm phán trên quyền lợi của mỗi bên. Nhưng về an ninh và quốc phòng, nó phải dựa trên niềm tin và ở đây niềm tin được xây dựng giữa hai nước, thì nó phải là niềm tin thực sự.

Chứ không phải niềm tin mà không đáng được quan tâm, mà lại xây dựng được niềm tin.

Việt Nam và Mỹ cùng tham gia vào các Công ước Quốc tế, vì vậy chuẩn mực của công ước quốc tế là cái mà hai bên cùng phải theo đuổi để đáp ứng vấn đề nhân quyền. Chứ không thể có sự khác biệt vì hai bên đều là thành viên của các công ước đó

Nhà báo tự do, blogger Điếu Cày - Nguyễn Văn Hải

Cụ thể ở đây, thứ nhất về vấn đề như anh Đặng Xương Hùng nói, đây chỉ là những nhu cầu tình huống của chính quyền Việt Nam thôi, thế còn xây dựng niềm tin với những đối tác thì hoàn toàn không có. Ở đây vấn đề như anh Lợi (PGS. TS Cù Chí Lợi) có nói vấn đề khác biệt giữa hai bên về vấn đề nhân quyền, tôi xin nói là Việt Nam và Mỹ cùng tham gia vào các Công ước Quốc tế, vì vậy chuẩn mực của công ước quốc tế là cái mà hai bên cùng phải theo đuổi để đáp ứng vấn đề nhân quyền. Chứ không thể có sự khác biệt vì hai bên đều là thành viên của các công ước đó. Còn vấn đề về nhân quyền ở Việt Nam và đặc biệt là vấn đề xây dựng pháp luật ở Việt Nam, để có một môi trường pháp luật minh bạch cho người dân, cho cả những nhà đầu tư nước ngoài, kể cả nhà đầu tư Hoa Kỳ, thì ở Việt Nam, môi trường pháp luật rất kinh khủng...

Đó là việc hiện nay Việt Nam, chính báo chí Việt Nam đăng, là đang có hàng chục ngàn văn bản dưới luật có nội dung trái luật. Như vậy, các quyền của người dân, của doanh nghiệp có thể bị vi phạm bất cứ lúc nào, trong khi các quyền đó được nêu trong Hiến pháp, trong luật và trong các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết", ông Nguyễn Văn Hải, tức blogger Điếu Cày, nói với Bàn tròn từ California.

clip_image006

Blogger Điều Cày - Nguyễn Văn Hải nói, cả Việt Nam và Mỹ cùng phải theo đuổi và đáp ứng về nhân quyền.

Cẩn thận kẻo bị thí

Ông Đặng Xương Hùng, nguyên Phó Vụ trưởng Bộ Ngoai giao, cựu Lãnh sự Việt Nam tại Geneva, Thụy Sỹ nói với Bàn tròn của BBC về điều mà ông cho rằng Việt Nam cần lưu ý trong chính sách ngoại giao “đa phương”, cố “đi dây” cân bằng các quan hệ với các đối trọng hiện nay.

Trước hết, ông Hùng bình luận về việc liệu Việt Nam đã thực sự “nghiêm túc, chiến lược, dài hạn” hay chưa trong quan hệ Việt Mỹ, hay đây mới chỉ dừng ở “hình thức”, “nhất thời” và “tình thế” trong quan hệ với Mỹ hiện nay.

Ông nói: "Sau khi trong nước không phát biểu gì về Giàn khoan (Hải Dương 981), thì Mỹ đã phát biểu về giàn khoan, lên án Giàn khoan, và sau khi Mỹ lên án thì Giàn khoan đã được rút...

clip_image008

Bởi vì nếu không nhanh chân trong quan hệ Việt - Mỹ, thì Việt Nam sẽ rất dễ rơi vào việc là tiến tới sự hòa hoãn giữa Mỹ và Trung Quốc, và Việt Nam lúc đó lại tiếp tục rơi vào việc là 'con bài thí' trong sự hòa hoãn của các nước lớn

Ông Đặng Xương Hùng

"Còn ý tiếp theo, nó không phải là chiến lược, bởi vì cái này người Mỹ đã nhìn thấy là nó chỉ mới dừng ở mức hình thức, do đó khi lãnh đạo Việt Nam, nhất là ông Trương Tấn Sang đã sang và đề nghị nâng quan hệ lên “Đối tác chiến lược”, thì người Mỹ đã chỉ chấp nhận đối tác toàn diện thôi... Người Mỹ trong những bước đưa ra cho Việt Nam, đưa ra rất nhiều khuyến khích như là công nhận (nền) kinh tế thị trường, rồi ký TPP, rồi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương, tất cả những cái đó đều kèm những giai đoạn nhất định nào đó, thì người ta nghĩ rằng quan hệ Việt - Mỹ vẫn còn phải dựa trên một quan hệ tin cậy lẫn nhau, phải đi từ hai phía, chứ không phải chỉ đi từ một phía. Tất nhiên hai bên đều có nhu cầu.

Cho rằng Việt Nam cần nhanh chân trong mối quan hệ Việt - Mỹ, ông Hùng nói thêm:"Bởi vì nếu không nhanh chân trong quan hệ Việt - Mỹ, thì Việt Nam sẽ rất dễ rơi vào việc là tiến tới sự hòa hoãn giữa Mỹ và Trung Quốc, và Việt Nam lúc đó lại tiếp tục rơi vào việc là 'con bài thí” trong sự hòa hoãn của các nước lớn”, cựu quan chức ngoại giao Việt Nam nói với BBC.

Cơ hội nâng đẳng cấp

clip_image010

Nguyễn Giang (trái) tin rằng VN nên tận dụng thời điểm quan hệ Việt - Mỹ hiện nay để nâng cao “đẳng cấp quốc gia, dân tộc”.

Hôm thứ Năm, nhà báo Nguyễn Giang, Trưởng ban Việt ngữ của BBC nói với Tọa đàm về điều được cho là “cơ hội nâng đẳng cấp” của quốc gia đối với Việt Nam trong quan hệ với Hoa Kỳ trong bối cảnh hiện nay và hướng tới dài hạn.

Nguyễn Giang nói: "Nếu chúng ta nhìn ra toàn cầu, thì gần như ở khu vực nào, Hoa Kỳ cũng đang có quá trình “engagement” tức là quá trình tham gia hội nhập và gợi mở để hội nhập, cho rất nhiều quốc gia khác nhau. Ví dụ như ở Tây Bán Cầu gần nhất là Cuba, thì gần đây Hoa Kỳ có thái độ cởi mở hơn và cử những phái đoàn cao cấp sang và nối lại.

Và như chúng ta biết tuần này, ông Fidel Castro cũng có những bài viết nói là hoan nghênh, như vậy là gần như mối quan hệ nó sẽ được bình thường hóa đi rất nhanh. Nhưng cùng lúc Hoa Kỳ cũng có thái độ cô lập Venezuela chẳng hạn”.

Đây là một cơ hội, nhìn rộng ra thì cơ hội rất là lớn cho Việt Nam với tư cách một quốc gia, một dân tộc, có thể lợi dụng cơ hội này để nâng đẳng cấp của quốc gia lên về mặt khoa học kỹ thuật, cũng như về mặt quân sự, cũng như các lĩnh vực khác

Nhà báo Nguyễn Giang, BBC

"Ở châu Âu, mọi người đều thấy là Hoa Kỳ cũng có một cái gọi là ván bài tương tự. Tức là ủng hộ những nước nhỏ hơn ở Đông Âu, nhưng mà đang kiềm chế nước Nga.

Thì nhìn sang Đông Á, chúng ta thấy có vẻ cũng tương tự như vậy, tất nhiên nó có những bối cảnh khác ví dụ như là Hoa Kỳ muốn ngăn ngừa sự lan ra của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương, nhưng đồng thời hỗ trợ rất mạnh cho các quốc gia đồng minh lâu đời và những đối tác mới như là Việt Nam.

Thì đây là một cơ hội, nhìn rộng ra thì cơ hội rất là lớn cho Việt Nam với tư cách một quốc gia, một dân tộc, có thể lợi dụng cơ hội này để nâng đẳng cấp của quốc gia lên về mặt khoa học kỹ thuật, cũng như về mặt quân sự, cũng như các lĩnh vực khác.

Và tất nhiên quan hệ với Trung Quốc thì Việt Nam sẽ luôn luôn phải có thôi và càng tốt thì cũng sẽ tốt chung cho cả các nước, chứ không ai nghĩ là Việt Nam và Trung Quốc phải đi đến một xung đột gì.

Thế nhưng mà nhìn rộng ra thì Hoa Kỳ đang ở giai đoạn rất, có thể nói là, ưu ái với Việt Nam", nhà báo Nguyễn Giang nêu quan điểm.

Kỳ vọng của giới trẻ

clip_image012

Giới trẻ mong muốn tiếp nhận nền giáo dục Mỹ và phương Tây, trong khi giáo dục VN còn gặp “một số vấn đề”.

Khép lại cuộc Tòa đàm nhân tròn 20 năm “Quan hệ Việt - Mỹ” của BBC, một sinh viên Việt Nam đang du học năm thứ nhất ở Đại học Cornell, New York, Hoa Kỳ về lĩnh vực “Kỹ nghệ hóa học” chia sẻ với BBC về kỳ vọng, mong muốn của mình về quan hệ Việt - Mỹ trong tương lai.

Sinh viên Hoàng Phong nói với Bàn tròn trực tuyến:

"Hiện nay như mọi người cũng biết có rất nhiều học sinh Việt Nam đang đi du học ở Mỹ, có con số khoảng từ 16.000 đến 19.000 học sinh (sinh viên) Việt Nam đang du học tại Hoa Kỳ.

Nó có thể là không phải làm theo định hướng bây giờ của phương Tây và thế giới, nhưng định hướng mới ấy nó có thể dung hòa một cách tốt hơn những quan điểm hiện nay ở VN với cả quan điểm chung.

Hoàng Phong, sinh viên du học tại Mỹ

"Thứ nhất, đối với giáo dục thì nếu có một mối quan hệ Việt - Mỹ tốt hơn, thì dĩ nhiên điều đầu tiên mà học sinh và giới trẻ mong muốn là cơ hội được tiếp nhận với nền giáo dục Mỹ, nền giáo dục phương Tây, trong khi mà nền giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn còn đang có rất nhiều điều cần phải giải quyết.

Điều thứ hai của giới trẻ có lẽ là một nhu cầu khi mà được tiếp xúc với phương Tây và thấy được rằng phương Tây có những điểm khác biệt về mặt văn hóa, xã hội.

Ví dụ như là vấn đề tự do ngôn luận, quan điểm của phương Tây rất là khác với quan điểm của Việt Nam, nhất là quan điểm của Mỹ - là một nước tương đối đề cao vấn đề tự do ngôn luận trong xã hội.

Thì có lẽ giới trẻ Việt Nam, như bản thân tôi, cũng cảm thấy rằng là một sự tiếp xúc với những định hướng xã hội khác này là một điều rất quan trọng để giới trẻ Việt Nam có một định hướng phát triển mới trong tương lai.

Nó có thể là không phải làm theo định hướng bây giờ của phương Tây và thế giới, nhưng định hướng mới ấy nó có thể dung hòa một cách tốt hơn những quan điểm hiện nay ở Việt Nam với cả quan điểm chung”, du học sinh năm thứ nhất, Hoàng Phong, nói với Bàn tròn về bang giao Việt - Mỹ của BBC.

Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/01/150129_hangout_viet_my_20_nam

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Bàn về “Nhân Duyên” trong nạn tham nhũng

(Trao đổi với tác giả Nguyễn Duy Vinh)

Nguyễn Đình Cống

Tôi vừa đọc bài “Giải trình vấn nạn tham nhũng VN qua lăng kính nhân duyên” của Nguyễn Duy Vinh đăng trên Bauxite ngày 29/1/2015. Ông đã dựa vào cách đặt liên tiếp các câu hỏi “tại sao?” và thuyết “Duyên khởi” với 4 duyên quan trọng để tìm nguồn gốc sâu xa của tham nhũng và đã chỉ ra 10 duyên (tóm tắt : 1- Lòng tham; 2 - Pháp luật lỏng lẻo; 3 - Đảng độc quyền; 4 - Người có quyền được bảo vệ; 5 - Báo chí không tự do; 6; 7; 8; 9; 10 - Tham nhũng lan rộng). Tôi tán thành cách làm đó, chỉ xin thảo luận và bổ sung vài ý.

Thông thường để giải thich một hiện tượng người ta hay tìm nguyên nhân. Có nguyên nhân gần, (trực tiếp), nguyên nhân xa (gián tiếp), nguyên nhân gốc(cơ bản). Theo “Duy thức luận” thì để có một kết quả cần có cả NHÂN và DUYÊN. Trong bài “Nguyên nhân gốc của những tệ nạn” ( đã đăng trên Bauxite VN ngày 27/1/2015) tôi đã trình bày vấn đề này và cho rằng “Nguyên nhân gốc của nhiều tệ nạn ở VN hiện nay là sự kết hợp, sự cộng hưởng giữa một số tính xấu của người Việt và những phần độc hại của Chủ nghĩa Mác Lênin”. Đó cũng là nguyên nhân gốc của nạn tham nhũng.

Xem xét 10 “duyên” do ông Vinh đưa ra tôi thấy trừ duyên 1 ( tham lam ) có tính độc lập, các duyên còn lại ( từ 2 đến 10 ) là có cùng một nguồn gốc, đó là sự độc quyền toàn trị của Đảng CS, mà sự này là do Chủ nghĩa Mác Lênin mang lại. Các duyên từ 2 đến 10 thực ra đều là những nguyên nhân gần, trực tiếp và nếu tìm thì còn phát hiện ra một số nữa, đó chưa phải là nguyên nhân gốc, cơ bản. Cái duyên 1(tham lam) không nằm trong Chủ nghĩa Mác, nó thuộc tính xấu của người Việt nói riêng và của nhân loại nói chung. Tính xấu đó, cái NHÂN đó gặp được cái DUYÊN là những phần độc hại trong Chủ nghĩa Mác thì phát triển nhanh chóng và rộng rãi. Tính xấu đó là từ trong phần yếu kém của nền văn hóa dân tộc. Những yếu tố độc hại của Chủ nghĩa Mác gặp được sự yếu kém này càng phát huy tác hại mạnh mẽ.

Sự tham nhũng cũng xẩy ra ở một số nơi khác trên thế giới vì có cái nhân tham lam, còn cái duyên thì mỗi nơi một khác. Lòng tham lam trong mỗi con người, trong mỗi dân tộc đều có nhiều hay ít, tuy vậy tham nhũng như ở Việt Nam hiện nay thì hiếm khi gặp.

Khi có nền chính trị trong sáng, nghiêm minh, dân chủ thì lòng tham bị ngăn ngừa, bị hạn chế, được giảm bớt. Nó chỉ bùng phát khi gặp DUYÊN thuận lợi.

Chủ nghĩa Mác Lênin mang một số mầm mống độc hại về đấu tranh giai cấp, về chuyên chính vô sản. Những mầm đó khi chưa có điều kiện thuận lợi, khi Đảng Cộng sản chưa giành được chính quyền, thì còn nằm im, chưa phát huy tác hại. Khi ĐCS đã có chính quyền thì những mầm mống độc hại bắt đầu nẩy nở, nhưng nếu không gặp môi trường thích hợp (dân trí thấp, người cầm quyền tham lam và đểu cáng) thì nó cũng chỉ gây tác hại vừa phải. Cũng là chịu thống trị của Chủ nghĩa Mác Lênin nhưng ở Cu ba, các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây nạn tham nhũng tuy cũng có nhưng không trầm trọng như ở Việt Nam hiện nay.

Cuối bài của mình, ông Nguyễn Duy Vinh có đề nghị thảo luận và viết là sẽ chuẩn bị đề tài cho lần tới. Có một vài ý kiến trao đổi, hy vọng sẽ được đọc tiếp những ý kiến sâu sắc của ông.

N.Đ.C.

Tác giả gửi BVN