Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

Hôm qua chó nhà tang, hôm nay chó gác cửa: Bàn về cơn sốt Khổng Tử hiện nay

Lưu Hiểu Ba

Phan Trinh dịch

Lời giới thiệu của người dịch

1. “Chó nhà tang” và “chó gác cửa” ở đây chỉ Khổng Tử. Đề tài này có thể hơi nhạy cảm với ít nhiều trí thức Việt Nam, vì nó đưa ra một cái nhìn hơi lạ về một người quen, và có lẽ cũng vì trong Văn Miếu Quốc Tử Giám hiện nay vẫn có bệ thờ Khổng Tử.

Thoạt đọc, bài này có vẻ như muốn ‘hạ bệ’ Khổng Tử, nhưng đọc kỹ, người đọc sẽ thấy Lưu Hiểu Ba muốn tìm lại sự thật cho Khổng Tử, và thấy Khổng Tử cũng như nhiều trí thức xưa nay lúc thì bị ruồng rẫy, khi thì được ‘phong thánh’, được gán cho nhiều điều mình không có, và trở thành bao tay nhung che cho bàn tay sắt.

2. Tên của Khổng Tử và Lưu Hiểu Ba trong vài năm qua nhiều lần được nhắc chung. Lưu Hiểu Ba viết bài này về Khổng Tử ngày 18/8/2007. Năm 2010, nhà cầm quyền Trung Quốc vội vã thành lập Giải Khổng Tử để đối trọng với Giải Nobel Hòa Bình vừa được trao cho Lưu Hiểu Ba, vì nỗ lực đấu tranh cho nhân quyền của ông. Cũng nên nhắc lại là vào Lễ Noel 25/12/2009, Lưu Hiểu Ba bị Bắc Kinh kết án 11 năm tù vì tội tuyên truyền chống nhà nước, còn Giải Khổng Tử năm 2011 thì được trao cho Vladimir Putin, lãnh tụ Nga có khuynh hướng độc tài*.

3. Cơn sốt Khổng Tử mà Lưu nói tới vẫn kéo dài đến nay. Viện Khổng Tử (gần như Viện Goethe, Hội Đồng Anh…) công cụ của quyền lực mềm trong tay nhà cầm quyền Trung Quốc, mở cơ sở đầu tiên năm 2004, đến nay đã có hơn 320 Học viện được thành lập trên thế giới, trong đó 1/5 là ở Mỹ **.

4. Đọc bài này, rất có thể người đọc sẽ nêu câu hỏi: Liệu có điểm gì giống nhau giữa Viện Khổng Tử và Viện Trần Nhân Tông, Giải Khổng Tử và Giải Trần Nhân Tông được nhắc tới gần đây với ít nhiều nghi ngại hay không.

5. Bản dịch này dựa trên bản tiếng Anh, có tham khảo bản tiếng Trung. Bản tiếng Anh có tựa “Yesterday’s Stray Dog Becomes Today’s Guard Dog” (Chó hoang hôm qua nay thành chó giữ nhà) do Thomas E. Moran dịch, in trong cuốn No Enemies, No Hatred (Không thù, không ghét) tuyển tập luận văn và thơ Lưu Hiểu Ba, do Perry Link, Tienchi Martin-Liao và Lưu Hà biên tập, xuất bản năm 2012 tại Anh Quốc. Bản tiếng Trung có tựa “昨日丧家狗 今日看门狗 – 透视当下中国的“孔子热”” (Tạc nhật táng gia cẩu, kim nhật khán môn cẩu, thấu thị đương hạ Trung Quốc đích “Khổng Tử nhiệt”), xuất bản lần đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com.

P.T.

Người Trung Quốc hiện rất phấn khích vì nước nhà đang trỗi dậy như một cường quốc. Nhờ kinh tế trỗi dậy nên văn hóa cũng trỗi dậy, nhờ tung tiền khắp nơi nên “quyền lực mềm” cũng được xuất khẩu ra thế giới. Trong nước, người người đua nhau chạy theo cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng, cơn sốt theo đạo Nho. Chương trình Bách gia Giảng đường của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) cũng khởi xướng cơn sốt đọc lại Luận ngữ nhằm phục hồi đạo đức truyền thống. Trong khi đó ở ngoài nước, Trung Quốc đầu tư lớn để mở hàng loạt các “Viện Khổng Tử” nhằm lan tỏa quyền lực mềm. Giấc mơ bá chủ thiên hạ của Trung Quốc bị dồn nén hơn thế kỷ nay lại có cơ tái xuất giang hồ. Đức Khổng Tử ở trong và ngoài nước bỗng kết thành một trận tuyến liên hoàn. Cơn sốt Khổng Tử quả là càng lúc càng nóng.

Nhưng, đàng sau cơn phấn khích của đám đông kia, tôi cho rằng không phải là ước muốn khôi phục nền đạo đức cũ, mà là toan tính phục hồi truyền thống sùng bái thánh Khổng, một phần không thể thiếu trong kế hoạch của nhà nước nhằm đẩy mạnh chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Những năm sau biến cố Thiên An Môn [1989], nhà nước một mặt chống lại các nỗ lực đòi hỏi tự do, chống “diễn biến hòa bình”, một mặt lại thổi bùng tình cảm “yêu nước” cực đoan. Chủ nghĩa yêu nước cực đoan này, rường cột cho ý thức hệ mới của nhà cầm quyền Trung Quốc, kết hợp với chiến dịch quảng bá cho cái mà Đảng Cộng sản Trung Quốc gọi là “Thời hoàng kim thịnh vượng” đã làm làn sóng dân tộc chủ nghĩa dâng cao vô tội vạ. Không gì rõ hơn những dòng này ở cuối “Tế văn Vinh danh Khổng Tử, nhân Liên hoan Văn hóa Khổng Tử Quốc tế 2005, tại Khúc Phụ, Trung Quốc”. Tế văn viết những lời có cánh như sau: “Thời hoàng kim vừa đến, nuôi giấc mơ đại đồng; Mừng gặp thời thịnh vượng, và cường quốc vinh quang”. Thật là một bản song tấu rổn rảng điển hình khi chủ nghĩa dân tộc hòa vào ‘Phúc âm’ của “Thời hoàng kim”.

Trong một năm qua, việc cổ xúy văn hóa truyền thống trên chương trình Bách gia Giảng đường của CCTV đã góp phần biến Khổng Tử thành một món hàng thời thượng, hoặc mượn lời của Lỗ Tấn, thành “‘Mô-đen’ Khổng Tử”. (Điều tương tự từng rộ lên cách đây vài năm khi Mao Trạch Đông cũng trở thành một thứ “mốt”.) Hiện sách vở đủ loại về Khổng Tử đang hốt bạc cho các nhà xuất bản, các lớp quốc học và cổ văn cũng mang lại món lợi lớn. Ban Quốc học Đại học Thanh Hoa tính học phí mỗi người 26.000 nhân dân tệ, Đại học Phục Đán lấy mỗi người 38.000 nhân dân tệ, và khóa học cổ văn ngoài giờ cho trẻ em cũng có học phí cao ngất ngưởng.

Chương trình nói trên của CCTV cũng làm tên tuổi Vu Đan trở thành hiện tượng được cả nước biết. Vu Đan rao bán, thay vì rao giảng Khổng Tử bằng một giọng điệu khéo léo, kết hợp những câu chuyện cao đạo về người xưa với những kiến giải có độ sâu sắc chỉ ngang với ca từ nhạc sến. Những suy luận võ đoán, những lý giải nông cạn thường trực của bà về Khổng Tử có tác dụng như một thứ ma túy tinh thần giữa cơn sốt phục hưng đạo Khổng trong văn hóa đại chúng. Cuốn Luận ngữ tâm đắc của Vu Đan mang một thông điệp dễ dãi. Theo giải thích của Vu Đan thì Khổng Tử dạy rằng ai ai cũng có thể sống thoải mái với tâm thế thực dụng, dù gặp gì đi nữa cũng đừng phàn nàn, nếu biết thuận theo hoàn cảnh thì sẽ thích ứng dễ dàng và sống đời hạnh phúc.

Trong khi cơn sốt đọc Khổng Tử do Vu Đan khởi xướng đang ăn khách, thì giáo sư Đại học Bắc Kinh, Lý Linh, xuất bản cuốn sách có tên Chó nhà tang – Tôi đọc Luận ngữ [1]. Bằng nghiên cứu của riêng mình, giáo sư Lý đã trục xuất những điều vớ vẩn được nói về Khổng Tử và trả ông về với hình ảnh nguyên thủy. Giáo sư Lý viết trong lời mở đầu:

“Sách của tôi là thành quả những ý tưởng của riêng tôi về Khổng Tử. Tôi không lặp lại những gì người khác đã nói. Tôi cũng không quan tâm tới những gì Mạnh Tử, Vương An Thạch [2], hoặc bất cứ học giả lớn nhỏ nào đã từng nói về Khổng Tử. Nếu điều gì không có trong văn bản gốc, thì tôi sẽ gạt qua một bên… Nếu muốn biết đích thân Khổng Tử nghĩ gì, hãy tìm đọc văn bản gốc… Tôi không viết để dự phần vào cuộc tranh cãi của các trí thức, cũng không viết để thỏa mãn thị hiếu của đa số.”

Và giáo sư Lý kết luận:

“Sau khi đọc Luận ngữ, tôi thấy tốt nhất không nên đặt Khổng Tử lên bệ thờ, cũng không nên dìm ông xuống bùn, mà chỉ nên nói rằng ông rất giống Don Quixote.”

Qua việc phản đối nạn sùng bái thần thánh và khát khao truy tìm sự thật với thái độ không mị dân, giáo sư Lý đã góp phần đả phá truyền thống thần thánh hóa Khổng Tử đã kéo dài suốt hơn 2000 năm nay. Ông viết:

“Trong cuốn sách này, tôi muốn giải thích cho độc giả rằng Khổng Tử thực ra không phải là một vị thánh. Vị Khổng Tử mà các hoàng đế tôn sùng từ triều đại này qua triều đại khác không phải là Khổng Tử thật, mà là một Khổng Tử “nhân tạo”. Khổng Tử thật không phải là thánh, cũng chẳng phải vua, cũng không là “nội thánh ngoại vương” [trong thánh, ngoài vua] gì cả… Khổng Tử chỉ là người, một người xuất thân bình dân, luôn tin rằng kẻ sĩ cổ đại (những “quân tử” đúng nghĩa) đã định ra chuẩn mực mà mọi người nên noi theo để đối nhân xử thế; một người yêu chuộng những gì cổ xưa, học hành chăm chỉ, không nản chí; một người thầy tận tụy, không mệt mỏi truyền đạt văn hóa người xưa và khích lệ học trò học tập kinh sách cũ; một người không có chức, cũng không có quyền – chỉ có học vấn về đạo đức – nhưng dám can ngăn kẻ cầm quyền; một người đi tứ xứ du thuyết, lao tâm thay cho kẻ cai trị, liều mình khuyến dụ người cải tà quy chính; một người nhiệt tình, ước mơ khôi phục đường lối nhà Chu để thiên hạ thái bình; một người luôn bị giằng xé, hoang mang, nay đây mai đó, giống hành trạng của một con chó vô chủ, lang bạt, không có nhà để về. Đó là Khổng Tử thật.”

Trong cách nghiên cứu và lý giải Luận ngữ của mình, rõ ràng giáo sư Lý đã bỏ rất xa Vu Đan nông cạn và bất cẩn. Quan trọng hơn, ông đồng cảm được với Khổng Tử, người trí thức hơn 2000 năm trước. Ông cho biết chính Khổng Tử cũng tự nhận mình là con chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Ông viết:

“Khổng Tử tuyệt vọng với quê hương mình, cùng các môn sinh ông đi khắp nơi, làm việc với chư hầu, nhưng cũng chẳng được gì. Cuối đời ông trở về quê hương, sống những năm cuối đời với tâm trạng buồn bã. Trước khi ông qua đời, con trai và hai học trò yêu của ông, Nhan Hồi và Tử Lộ (Trọng Do) cũng mất, ông khóc thương họ cạn nước mắt. Tuy ông mất trong nhà mình, nhưng cũng có thể nói ông không hề có nhà. Những giáo huấn của ông có thể đúng hoặc sai, nhưng dù đúng hay sai, đời ông cũng phản ánh số phận của người trí thức Trung Quốc tiêu biểu.”

Việc giáo sư Lý Linh đưa ra lời bình luận về con chó mất chủ giữa lúc cơn sốt Khổng Tử và văn hóa truyền thống đang lên cao trào, giống như ném một tảng đá to xuống nước: Nó tạo nên những làn sóng phản đối dữ dội từ những tín đồ mới của đạo Khổng. Giáo sư Lý bị đả kích cay độc, bị nguyền rủa, những kẻ bị xúc phạm đã biến bức xúc của mình thành giận dữ. Giáo sư Lý bị tố là phao tin đồn nhảm, và là một “phẫn thanh” [đọc trại sẽ thành 'thằng ăn cứt"], những người chưa đọc sách của giáo sư Lý tự cho mình cái quyền gọi nó là “rác rưởi”. Tất cả những eo xèo này chỉ vì ông dám gọi Khổng Tử là chó nhà tang vô chủ. Điều đó cho thấy lòng sùng kính Khổng Tử của những nhà Nho mới đưa đã đưa Thánh Khổng lên vị trí bất khả xâm phạm, không ai được đụng tới. May mắn là số nhà Nho mới này không có quyền lực chính trị là bao. Nếu có quyền lực, chúng ta chắc đã phải trở về thời đại mà (như Lâm Bưu nói về Mao Trạch Đông) “mỗi lời của ngài đều là chân lý, mỗi chữ của ngài quý hơn ngàn vạn chữ của kẻ khác.”

Giáo sư Lý Linh là một nhà nghiên cứu lịch sử nghiêm túc. Ông viết: “Tôi xem Luận ngữ là một chủ đề nghiên cứu lịch sử, chứ không phải sách thánh.” Khi ông gọi Khổng Tử là chó nhà tang, ông nhắc ta nhớ rằng ở Trung Quốc thời Xuân Thu (770-476 trước CN) tầng lớp trí thức đã phải sống trong bất an, cả trong sợ hãi, tài năng của họ thường không được trọng dụng, và trong hoàn cảnh đó, một “kẻ có lý tưởng nhưng không tìm được quê hương tinh thần của mình” thì chẳng khác gì con chó nhà tang mất chủ ngơ ngáo. Nhưng, theo tôi, giáo sư Lý nói rằng Khổng Tử thiếu “quê hương tinh thần” là đã cho ông hơi nhiều điểm. Sự thật là ông đi khắp đó đây không phải để tìm quê hương tinh thần của mình, mà là tìm một chỗ để làm quan. Mục tiêu lớn của ông là trở thành quân sư, nhưng ông đã thất bại. Ông là con chó nhà tang không chủ, nhưng nếu được kẻ cầm quyền nào tin dùng, thì chú chó không chủ kia đã trở thành chó gác cửa.

Cũng nên biết là giáo sư Lý Linh không phải người đầu tiên gọi Khổng Tử là chó nhà tang. Người xưa đã từng đánh giá ông như thế. Truyện Khổng Tử trong cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên (145?-86 trước CN) viết rằng, vào năm 40 tuổi, khi không đạt được gì, Khổng Tử đã than rằng “Ta cùng đường rồi!” và rằng “Chẳng chỗ nào trong thiên hạ dung được ta!” Cũng theo Sử ký, dân chúng thời Khổng Tử đã tả rằng nhìn ông “băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang”. Khi đệ tử kể lại cho Khổng Tử nghe lời nhận xét này về mình, ông đã bảo rằng nói như thế là đúng làm sao, đúng làm sao![4] Ngày nay, những kẻ “bảo vệ Đạo lý đích thực” thì cho rằng những lời nói kia của Khổng Tử là những lời tinh tế có ý nghĩa lớn lao về thuật trị quốc và dạy người. Họ bảo Lý Linh gọi Khổng Tử là chó nhà tang như vậy là phạm thượng, phản bội, vô đạo và cuốn sách đó chỉ đáng vứt vào sọt rác. Có bạn ‘phẫn Nho’ còn cho rằng giáo sư Lý “mắc bệnh thần kinh!”

Người tôn thờ Khổng Tử có thể nguyền rủa sách của giáo sư Lý đủ kiểu, nhưng thực ra những gì ông viết về Khổng Tử, nhất là trong lời mở đầu rất thẳng thắn và thu hút, đã vượt xa những gì mà Tương Khánh và những “nhà tư tưởng mới” về Khổng Tử rêu rao. Rất nhiều học giả nổi tiếng đã đánh giá cao cuốn Chó nhà tang của giáo sư Lý.

Trong bài viết có tên “Tính khả thi của Nhân, Nghĩa – Điểm sách Chó nhà tang của Lý Linh”, sử gia Ngô Tư viết: “Giáo sư Lý đã làm rất tốt. Các dự án văn hóa sau này cũng phải được xây dựng trên những văn bản gốc cốt lõi. Theo tôi, những phát hiện của Lý Linh trong cuốn sách nói về Luận ngữ của ông còn hay hơn những gì Chu Hy (1130-1200) nói về Khổng Tử.”

Trong một bài điểm sách tương tự, giáo sư Tiên Lý Quần của Khoa Trung văn Đại học Bắc Kinh viết: “Cách giáo  sư Lý Linh đọc Luận ngữ cho thấy một điểm rất lớn đó là sự đồng cảm chân thật, ‘từ trái tim đến trái tim’ với Khổng Tử, sự đồng cảm của một trí thức với một trí thức. Sự đồng cảm này giúp ông nhìn thấy vấn đề được gói ghém trong hình tượng ‘chó nhà tang’ kia là gì. Khi tôi đọc cụm từ ‘chó nhà tang’ tôi cũng thấy có ít nhiều nhạo báng, nhưng quan trọng hơn, tôi cảm được sự trăn trở và nỗi buồn đau của Khổng Tử.”

Trong một cuộc phỏng vấn, ông Lưu Mộng Khê, giám đốc Sở Nghiên cứu Văn hóa Trung Quốc, thuộc Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc, đã khen ngợi công phu nghiên cứu văn bản rất có trách nhiệm và cách làm việc nghiêm túc của giáo sư Lý Linh, góp phần giải độc những huyền thoại về Khổng Tử.

Giáo sư Tần Hy tại Đại học Thanh Hoa, trong bài “Làm thế nào Luận ngữ trở thành kinh điển?” đã viết rằng: “Hiện có những kẻ tìm cách nâng Luận ngữ lên thành một thứ Thánh Kinh của đạo Khổng, điều này cũng y như trước đây có kẻ muốn nâng cuốn sách nhỏ mỏng tang có tên Mao tuyển lên thành ‘đỉnh cao’ của chủ nghĩa Mác. Thử hỏi sự phấn khích với Mao tuyển đã làm phong phú chủ nghĩa Mác hay đã phá thối nó? Cũng vậy, sự phấn khích dành cho Luận ngữ hôm nay sẽ tôn vinh đạo Khổng hay chỉ làm hỏng nó?”

Trung Quốc vốn có truyền thống sùng thánh lâu đời, và trong mắt những người sùng bái thánh hiền xưa hoặc nay thì Khổng Tử nằm ngoài tầm tra vấn; ông là một vị vua không ngai đáng kính, là người nắm giữ chân lý, là quân sư của các thời đại, ông được tặng danh hiệu “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương” (“Vị vua và vị thánh tuyệt hảo của văn hóa”, danh hiệu được gán cho ông vào thế kỷ thứ 14) và với danh hiệu ấy, các vị hoàng đế đứng trước ông cũng phải cúi đầu. Đối với Khang Hữu Vy (1858-1927) và Hội Khổng học của mình, Khổng Tử là giáo chủ của một tôn giáo và cũng là một vị thánh; còn đối với những nhà Khổng học ngày nay thì ông là biểu tượng cho văn hóa Trung Quốc. Với họ, mỗi câu trong Luận ngữ đều là những lời giáo huấn thấu tình đạt lý về nghệ thuật trị quốc và tu thân. Nếu thời xưa, lời xưng tụng to tát nhất dành cho Luận ngữ là câu “Chỉ dùng nửa bộ Luận ngữ cũng có thể trị cả thiên hạ”, thì câu tán dương thời nay lại là câu “Giáo huấn của Khổng Tử đã quản thiên hạ 5000 năm trước, nay sẵn sàng để quản thiên hạ 5000 năm sau.” Có kẻ còn nói “Không đọc Khổng Tử không phải là người!” Ngày nay, có những “tín đồ đạo Khổng mới” lại còn ngụy tạo ra những tin tức giật gân, chẳng hạn như chuyện râm ran gần đây, rằng vào năm 1988, 75 người đoạt giải Nobel toàn thế giới đã họp nhau tại Paris để bầu chọn Khổng Tử là nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người! [5]

Trước cơn ‘tẩu hỏa nhập ma’ vì sùng bái thánh nhân này, tôi xin hỏi các nhà Nho tân thời một câu tầm phào sau: “Trong con mắt các vị thì Khổng Tử đương nhiên là thánh rồi, thế nhưng, ngài cũng chỉ là người, vậy ngài có đánh rắm phun hương không?!”

Sự sùng bái kia khiến người ta mất khả năng phân biệt đâu là người đâu là thánh, đâu là lời nói đời thường đâu là lời phán của trời. Họ gán cho những lời dạy thông thường trong Luận ngữ những ý nghĩa thâm thúy, cao siêu. Chẳng hạn như hai câu mở đầu của Luận ngữ “Học nhi thời tập chi, bất diệc thuyết hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?” (Học mà mỗi buổi mỗi tập, chẳng cũng thích ư? Có bạn ở xa nghe tiếng mà tìm lại, chằng cũng vui ư?)[6] Thử hỏi sự thâm thúy cao siêu trong câu này nằm ở đâu mà thiên hạ phải khổ công chú giải suốt suốt 2000 năm qua cho đến tận bây giờ?

Chu Tố Nhân (1885-1967) trong cuốn Luận ngữ tiểu ký đã nói đúng: “Luận ngữ chỉ cách tu tập để thành người tốt và cách ứng xử với đời… Đó có thể là một cẩm nang hữu ích cho hậu thế, nhưng dứt khoát không được xem đó là những chân lý không bao giờ thay đổi hoặc những chuẩn mực đạo đức. Càng không nên nghĩ rằng nó chứa đựng những triết lý chính trị sâu sắc có thể trị quốc và mang lại hòa bình cho thiên hạ.” Ngay G.W.F. Hegel, triết gia lớn của Đức, cũng chỉ xem Luận ngữ như một cuốn sách ghi chép những đạo lý thường thức, không hơn không kém.

Chính Hán Vũ Đế (156-87 trước CN) người ra quyết định “độc tôn Nho thuật” đã hóa phép cho Khổng Khâu trở thành đức Khổng Phu Tử. Con chó nhà tang chết còn bộ xương, nay bộ xương bỗng chốc phục sinh và trở thành con chó gác cửa cho các triều đại quân chủ chuyên chế Trung Hoa.

Vì đạo Nho tỏ ra có ích cho quyền thống trị của vua chúa chuyên chế, nên địa vị của con chó giữ cửa được chăm sóc, củng cố, một khi ngồi vào chỗ rồi là nó cứ ngồi đó suốt hai ngàn năm. Và khi thần tượng của giới có học được triều đình thổi lên đến tận trời xanh, thậm chí biến thành tượng thờ giát vàng trong tổ miếu hoàng gia, thì đó là lúc trí thức Trung Hoa có tư tưởng tiến bộ bị đầy xuống địa ngục, biến thành nữ tì phục vụ quyền lực. Một trường hợp điển hình là Tư Mã Đàm (165-110 trước CN) cha của Tư Mã Thiên. Hai cha con đều phục vụ triều đình nhà Hán trong tư cách những thái sử. Khi Tư Mã Thiên vì dám can ngăn Hán Vũ Đế mà bị xử thiến, ông đã bi phẫn than rằng:

Cha ta cũng chẳng đạt được gì đáng ghi tên vào sổ sách triều đình. “Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế tục vẫn coi thường.”[7]

Đến thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi các cường quốc Tây phương ép Trung Quốc mở cửa cho thế giới thì hệ thống quyền lực và ý thức hệ cũ lập tức suy vong nhanh chóng. Năm 1911, khi Cách mạng Tân Hợi kết liễu đế chế truyền thống thì Đạo Khổng, hệ ý thức của vua chúa độc tài, cũng mất hẳn chỗ dựa. Một lần nữa, “chó giữ cửa” lại trở thành “chó nhà tang” lang thang xó chợ. Mặc dù Viên Thế Khải (1859-1916) đã xoay sở để trở thành hoàng đế vào tháng 1 năm 1916 và cố phục hồi nghi lễ Đạo Khổng, nhưng cũng chẳng được bao lâu. Chỉ sáu tháng sau, Viên Thế Khải chết. Sự sụp đổ toàn diện của những định chế truyền thống và ý thức hệ cũ đã diễn ra, không thể nào tránh khỏi.

Theo tôi, khi các nhà Nho truyền thống mất chỗ dựa quyền lực thì đó là nỗi bất hạnh của họ, con chó gác cửa cung đình lại trở thành con chó lang bạt. Nhưng, nếu nhìn cách khác thì đây lại là một vận may lớn, là cơ hội để giới có học ở Trung Quốc có thể trở thành người trí thức hiện đại, có thể vứt bỏ những bệ đỡ của quyền lực độc tài mà họ vẫn dựa vào, có thể nuôi dưỡng và phát huy tinh thần phê phán độc lập. Cơ hội đã đến dù họ muốn hay không.

Nhưng rủi thay, thời kỳ “chó lang” bất đắc dĩ này chỉ kéo dài khoảng 50 năm. Khi Cộng sản Trung Quốc thiết lập chế độ cực quyền trên toàn quốc thì người trí thức cũng chẳng còn được thoải mái làm chó hoang nữa. Phần lớn bị đàn áp, truy đánh, dập dụa như “bầy chó mắc mưa”, một số gặp thời biến thành “chó giữ cửa” cho chính quyền Mao Trạch Đông. Quách Mạt Nhược (1892-1978) là một ví dụ điển hình, trong thời kỳ dân quốc ông còn dám mắng cả Tưởng Giới Thạch, nhưng sau năm 1949 thì ông chẳng khác nào con sâu nhũn gọi dạ bảo vâng trong tay Mao Trạch Đông.

Số phận của Khổng Tử trong thế kỷ 20 có lẽ sẽ khiến chính Khổng Tử choáng váng. Hai lần ông trở thành mục tiêu của những cuộc vận động chính trị chống lại mình. Lần đầu là trong phong trào Ngũ Tứ Vận động khởi đầu năm 1919, và lần kế tiếp là trong phong trào “phê Lâm [Bưu], phê Khổng [Tử]” do Mao Trạch Đông phát động năm 1974. Những năm sau vụ Thiên An Môn [1989], giới trí thức có khuynh hướng chống lại những gì được cho là cấp tiến, và họ xem cả hai phong trào Ngũ Tứ Vận động lẫn Phê Lâm Phê Khổng của Mao Trạch Đông là như nhau và bác bỏ cả hai. Nhưng làm như thế là họ không thấy hai cuộc vận động đánh đổ nhà Khổng này thực ra hoàn toàn khác nhau.

Trước hết, hai cuộc vận động có điểm xuất phát khác nhau. Ngũ Tứ là cuộc vận động văn hóa tự phát từ dưới lên. Người tham gia chủ yếu là những trí thức đô thị đã hấp thu tư tưởng mới, giá trị mới, và phương pháp mới du nhập từ phương Tây, và họ dùng những chuẩn mực phương Tây để hiểu vì sao Trung Quốc lạc hậu. Họ bất mãn với quan điểm vào cuối thế kỷ 19 cho rằng việc bắt kịp phương Tây chỉ là vấn đề kỹ thuật, hay thay đổi hình thức chế độ. Họ đi đến kết luận rằng thay đổi cốt lõi phải là thay đổi văn hóa. Ngược lại, phong trào “phê Lâm, phê Khổng” vào năm 1974 là một màn vận động chính trị từ trên xuống của Mao Trạch Đông, kẻ có quyền lực tuyệt đối và muốn đưa Tư tưởng Mao lên vị trí độc tôn và không tư tưởng nào khác trong hay ngoài nước được phép có mặt.

Thứ hai, tính chất của hai cuộc vận động này cũng khác hẳn nhau. Đối tượng mà các trí thức cách tân của Ngũ Tứ Vận động chống đối không phải là Khổng Tử thời Tiên Tần, lúc trăm nhà đua tiếng vào thế kỷ thứ năm trước CN, mà là Đức Thánh Khổng của Hán Vũ Đế, người đã đưa đạo Khổng lên vị trí độc tôn. Họ muốn đánh đổ sự độc quyền tư tưởng của đạo Khổng, của con “chó gác cửa”. Ngược lại, chiến dịch của Mao Trạch Đông chống lại Khổng Tử không liên quan gì đến nỗ lực cải tổ văn hóa, và cũng chẳng liên quan gì đến Khổng Tử. Cuộc vận động chỉ là công cụ giúp Mao cạnh tranh quyền lực với nhóm chóp bu của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mục tiêu cuối cùng của Mao là hạ bệ Lâm Bưu và cảnh cáo nhà “đại nho” Chu Ân Lai.

Nói cách khác, hai cuộc vận động chống Khổng Tử có bản chất khác nhau. Một bên là những nhà trí thức không quyền lực một bên là kẻ nắm quyền lực tuyệt đối chẳng khác gì một Tần Thủy Hoàng kiểu mới. Một bên là cuộc cách mạng văn hóa tự phát từ dưới lên, một bên là cuộc vận động chính trị từ trên xuống. Một bên cố tìm lối thoát cho văn hóa Trung Quốc, một bên chỉ mong củng cố quyền lực độc tôn.

Đó là lý do đến nay tôi vẫn tán đồng nỗ lực chống ảnh hưởng của Đạo Khổng như Ngũ Tứ Vận động chủ trương, và tiếp tục chống đối cuộc vận động chống Đạo Khổng của thời kỳ Cách mạng Văn hóa.

Trong luận văn viết năm 1935 “Khổng Phu Tử của Trung Quốc hiện đại”, khi Lỗ Tấn gọi Khổng Tử là thánh nhân “mô-đen” là ông có ý phê phán truyền thống tôn sùng thánh nhân của chế độ chuyên chế Trung Quốc. Ông viết: “Những kẻ đặt Khổng Tử lên bàn thờ, thánh hóa ông chính là những kẻ cầm quyền, hoặc những kẻ muốn nắm quyền. Việc này hoàn toàn không phải là việc của dân chúng bình thường.”

Theo tôi thì tệ sùng bái thánh nhân ở Trung Quốc là một công trình văn hóa giả tạo cực lớn do các đời vua chúa cùng bọn văn nhân cung đình phối hợp tạo nên. Vị Khổng Tử mà các vua chúa và quần thần “phong thánh” đã đánh mất hoàn toàn mọi mối liên quan với vị Khổng Tử đích thực, và đáng được xem như một món hàng giả vô cùng nguy hiểm.

Thực ra, nếu đọc kỹ các triết gia Tiên Tần, sẽ không khó nhận ra rằng tư tưởng của Khổng Tử cũng chỉ là những lời thuyết giáo đạo đức bình thường. So với Trang Tử (369-286 trước CN), Khổng Tử không có cái siêu thoát, nhẹ nhàng, tự nhiên, cũng không có trí tưởng tưởng đẹp đẽ kỳ vĩ, hoặc ngôn ngữ trôi chảy bất tận, cũng không có khả năng hòa quyện tri thức triết học với vẻ đẹp văn học thoát tục, hoặc tỉnh táo mà nhìn thấu đáo bi kịch của con người. So với Mạnh Tử (372-289 trước CN), Khổng Tử không có được cái khí phách của một trang nam tử, hoặc tầm nhìn rộng lớn, đó là chưa kể đến khả năng đối diện với quyền lực với thái độ đầy tự trọng, hoặc sự quan tâm thật lòng tới dân đen. Chính Mạnh Tử là người đã nói “dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.  So với Hàn Phi Tử (281-233 trước CN), Khổng Tử còn có vẻ hư ngụy, giả dối, không thẳng thắn, thiếu sắc bén, cũng không có khả năng châm biếm tài hoa. So với Mặc Tử (470-391 trước CN) Khổng Tử không lấy bình đẳng làm lý tưởng và tính thiện tự nhiên, đạo đức tự giác làm nền tảng cho một chủ nghĩa mới như chủ nghĩa kiêm ái, cũng không có một hệ thống lý luận cụ thể rõ ràng nào.

Ngược lại, những lời giáo huấn của Khổng Tử chỉ là trí thông minh nhỏ, không chứa đựng trí tuệ lớn. Những chỉ dạy ấy cực kỳ thực dụng, khôn khéo, nhưng không có tính thẩm mĩ hoặc triết lí thâm thúy. Ông cũng không có nhân cách cao quý hoặc tầm nhìn khoáng đạt. Ban đầu ông lang bạt tứ xứ muốn được làm quan, sau thất bại bèn trở thành thầy dạy đạo đức. Danh hiệu vị thầy chăm chỉ, và “dạy người không mệt mỏi” dành cho ông thực ra cũng chỉ phản ảnh ước muốn viển vông xuất phát từ một nhân cách nông cạn. Nguyên tắc nổi danh của ông “thịnh thế tắc nhập, loạn thế tắc ẩn” (thời thịnh trị thì dấn thân, thời loạn lạc thì ở ẩn), nếu nhìn kĩ sẽ thấy đó chính là cái đạo xử thế khôn lanh, thể hiện tính vô trách nhiệm và cơ hội chủ nghĩa. Thật hoài phí và tổn hại cho dân tộc Trung Hoa biết bao khi chính nhà tư tưởng này, nhà tư tưởng thực dụng hết mực, khôn lanh hết mực, và đời thường hết mực này, đức Khổng Tử, kẻ tránh né trách nhiệm xã hội và không biết cảm thông với đồng bào thọ nạn này, đã trở thành vị thánh và là mẫu mực cho họ noi theo. Dân tộc nào thì thánh nhân nấy, và thánh nhân nào thì dân tộc nấy. Tôi e rằng toàn bộ tính nô lệ trong lòng người dân Trung Quốc bắt nguồn từ đây, một thứ siêu di truyền văn hóa kéo dài từ xưa và tiếp tục đến ngày nay.

Ngoài việc truy tìm ý nghĩa đích thực của Luận ngữ, giáo sư Lý Linh còn muốn nhắm tới chủ nghĩa dân tộc cực đoan hiện nay của Trung Quốc. Giáo sư Lý thách thức những trào lưu thời thượng như cơn sốt đọc cổ văn, cơn sốt thờ Khổng Tử, và gián tiếp đặt vấn đề về sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc. Việc Lý Linh ám chỉ Khổng Tử như con chó lang thang “không một quê hương tinh thần” cũng là để phê phán các nhà Nho mới đang ra sức cổ vũ cho Khổng Tử như vị cứu tinh của thế giới. Giáo sư Lý cho rằng: “Tôi chẳng hứng thú gì khi người ta cắm ngọn cờ Khổng Tử trên toàn thế giới. Khổng Tử không thể cứu Trung Quốc, cũng chẳng thể cứu thế giới.”

Mục tiêu thứ hai mà Lý Linh nhắm tới là truyền thống phò quyền lực của giới trí thức Trung Quốc. Lời chỉ trích này rất thức thời vì giới Nho gia mới hiện đang tranh thủ lấy lòng giới cầm quyền. Họ độc tôn đạo Khổng, hô hào cho đạo Khổng, không phải vì muốn dùng đạo Khổng phục hồi đạo đức nước nhà, mà là họ chú trọng đến công năng chính trị “tu, tề, trị, bình” của đạo Khổng, họ muốn thống nhất chính trị và tôn giáo. Họ muốn Khổng Tử  trở thành “quân sư” hoặc giữ địa vị “quốc sư”. Họ muốn Nho giáo trở thành “quốc giáo”, và họ muốn nhà cầm quyền luật hóa các mục tiêu này. Khi làm việc này, rõ ràng những nhà Nho mới đang cho thấy tham vọng trở thành “quân sư” cho các đế vương hiện đại – hoặc trở thành một dạng “vua triết gia” theo kiểu Plato, thực sự nắm quyền lực trong tay. Khi tân trang hình ảnh cho Khổng Tử, họ thực ra đưa Trung Quốc ngược trở lại với thời Hán Vũ Đế. Họ muốn tái lập thời đại mà trong đó tư tưởng đa dạng của cả trăm nhà đều bị bãi bỏ, để độc tôn duy nhất đạo Khổng, họ muốn phục hồi tệ sùng bái “thần thánh” truyền thống.

Giáo sư Lý Linh nhận ra rằng trong lịch sử Trung Quốc, giới trí thức, vốn mang trong đầu rất nhiều điều không tưởng, chỉ thực sự hữu dụng khi nằm ngoài quyền lực và giữ vai trò phê phán nhà cầm quyền. Khi có quyền lực trong tay họ sẽ trở nên nguy hiểm, thậm chí thảm họa, cho quốc gia. Giáo sư Lý viết: “Giới trí thức, với mắt bén, đầu sáng, có thể trở nên độc tài hơn bất cứ ai. Đặt gươm đao phủ vào tay họ, thì kẻ đầu tiên mất mạng sẽ chính là những trí thức khác.” Điều này xảy ra vì thói quen của giới trí thức Trung Quốc tự cho rằng mình có trí tuệ tối ưu, đạo đức tối ưu, lí tưởng tối ưu, và sự hiểu biết tối ưu, cao hơn bất cứ ai. Họ tự cho mình cái quyền “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người”, và tin rằng họ còn có thế cứu vớt mọi người thoát vòng tai ương và kiến tạo thiên đường trên mặt đất. Trương Tải (1020-1077 trước CN) đời nhà Tống tóm tắt mục tiêu của người trí thức Trung Quốc trong bốn câu sau đây: “Vì trời đất lập đạo, vì dân sinh lập mệnh, vì thánh nhân xưa mà truyền thụ giáo huấn, vì muôn đời mà mang lại thái bình.” Ngày nay nhiều trí thức Trung Quốc vẫn mang não trạng này, cho thấy truyền thống tự mãn và cuồng vọng của trí thức Trung Quốc đã trở nên thâm căn cố đế, khó thay đổi.

Giáo sư Lý Linh muốn kêu gọi giới trí thức Trung Quốc hôm nay học lại bài học lịch sử, biết giữ khoảng cách với nhà cầm quyền, từ bỏ mộng trở thành quân sư, chấm dứt việc biến kinh sách truyền thống thành công cụ chính trị, phải giữ tính độc lập trong tri thức, tư tưởng, học thuật, phát huy tinh thần sáng tạo của người trí thức. Ở đoạn cuối lời giới thiệu sách, giáo sư Lý viết:

“Hãy bình tâm mà đọc Luận ngữ, đừng chính trị hóa, đạo đức hóa, giáo phái hóa Luận ngữ. Mục tiêu duy nhất là tìm cho được con người Khổng Tử thật, giữa một thời đại mà, mượn chính lời Khổng Tử, lễ nhạc đã suy đồi.”

Nếu giới trí thức Trung Quốc bỏ qua lời khuyên này, số mệnh của họ sẽ chẳng khác gì những kẻ đi trước, sẽ chỉ là những con chó chạy quẩn quanh phục vụ kẻ khác, đến khi không được ai công nhận thì trở thành chó nhà tang lang thang xó chợ đầu đường, gặp vận may được cưng chiều thì làm chó gác cửa.

Theo tôi, đại bi kịch của lịch sử văn hóa Trung Quốc không phải là việc Tần Thủy Hoàng (259-210 trước CN) “đốt sách chôn nho”, mà chính là việc Hán Vũ Đế “bãi truất trăm nhà, độc tôn đạo Nho”. Từ chủ trương này, Đổng Trọng Thư (175-105 trước CN) đã sửa đổi học thuyết của Khổng Tử, biến những đế chế vốn dĩ được thiết lập dựa trên bạo lực trở thành biểu hiện của đạo trời. Nguyên lý của Đổng Trọng Thư, ghi trong cuốn Lịch sử Tiền Hán, cho rằng “trời không đổi gì thì không gì phải đổi” (“thiên bất biến đạo diệc bất biến”) là căn cứ để khẳng định tính hợp pháp của chế độ, rằng sự trường tồn của các triều đại là việc đã được vũ trụ an bài. Lập luận này khoác lên mình chế độ bạo lực toàn trị một lớp áo nhân trị êm ái. Đương nhiên các đế vương thấy ngay tác dụng của lớp áo ngoài này, nên đã tiếp tục lập đạo Khổng thành một ý thức hệ chính thống độc tôn và trở thành con đường chính thức để kẻ có học lập thân, có nghĩa là trở thành “đầy tớ ngoan ngoãn” cho kẻ cầm quyền. Chính Mao Trạch Đông cũng định vị thân phận của giới trí thức rất rõ ràng  khi dùng câu nói “da [kẻ cầm quyền] không còn, thì lông [trí thức] bám vào đâu?”

Trách nhiệm lớn nhất của giới trí thức Trung Quốc hôm nay không phải là bảo vệ truyền thống sùng thánh mà quyền lực độc tài chủ xướng, mà là thoát khỏi sự lệ thuộc và vị thế phục dịch cho quyền lực độc tài kia. Chúng ta cần kế thừa và phát huy truyền thống Ngũ Tứ, mà giáo sư Trần Dần Khác (1899-1969) đã tóm tắt bằng câu “tư tưởng tự do, nhân cách độc lập”.

Lưu Hiểu Ba

Bắc Kinh, 18/8/2007

Xuất bản lần đầu trên vào ngày 2/9/2007 trên boxun.com.

Ghi chú của người dịch

* “Giải Khổng Tử công bố danh sách đề c“, BBC Việt ngữ 10/9/2012

** Xem “Khổng giáo, công cụ của quyền lực mềm“: Con số 320 Viện Khổng Tử được The Economist nhắc tới vào đầu năm 2011, trong khi ký giả Carrie Gracie của BBC gần đây lại nói có tới con số gần 1.000, đây là con số đáng ngờ, vì ngay cả phía Trung Quốc cũng chỉ dự định đạt được con số 1.000 Viện Khổng Tử vào năm 2020. Hình ảnh minh họa cho bài của Carrie Gracie cũng không chính xác vì bức tượng Khổng Tử tuy được khánh thành long trọng tại Thiên An Môn vào tháng 1/2011, nhưng đến tháng 4/2011 thì bức tượng cao 9 mét này đã được âm thầm dời đi trong đêm. Nghe nói tượng hiện được đặt trong vườn tượng thuộc Viện Bảo tàng Quốc gia. Nguồn các thông tin này xem tại: The Economist, 20/1/2011, BBC Việt ngữ 10/10/2012, Tân Hoa Xã (tiếng Anh), 10/2/2006.

——————————————

[1] Táng Gia cẩu: Ngã độc Luận ngữ 丧家狗:我读《论语》, Lý Linh, NXB Nhân Dân Sơn Tây, Trung Quốc, 2007

[2] Trong nguyên bản, Lưu Hiểu Ba dùng cụm từ “nhị thánh nhân, tam thánh nhân” để chỉ hai vị, dịch giả T. E. Moran nêu danh tính hai vị là Mạnh Tử và Vương An Thạch để độc giả phương Tây dễ hiểu. Ở nhiều đoạn khác, T. E. Morgan cũng ghi thêm ngày sinh, ngày mất bên cạnh tên tác giả để độc giả phương Tây dễ tham khảo.

[3] Quan điểm chỉ dùng Luận ngữ để tìm hiểu tư tưởng của Khổng Tử cũng là quan điểm của học giả Nguyễn Hiến Lê, vì có chứng cớ xác thực cho thấy Khổng Tử là người viết ra Luận ngữ, trong khi các tác phẩm khác lại không phải. Nguyễn Hiến Lê viết: “Từ xưa tới nay hầu hết các học giả viết về học thuyết Khổng tử đều dùng cả tứ thư lẫn Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Khổng Tử Gia ngữ v.v… làm tài liệu, như vậy theo tôi không phải là tìm hiểu Khổng Tử mà tìm hiểu Khổng giáo trong suốt thời Chiến Quốc, vì trong những sách dẫn trên, ngoài bộ Luận ngữ là bộ đáng tin nhất, còn thì bộ nào cũng chứa nhiều tư tưởng của người sau, không phải của Khổng Tử.

Tôi lấy thí dụ cuốn Đại học của Tăng Tử (một môn sinh được trực truyền) ngay trong đoạn đầu nói về việc tu thân để tề gia, trị quốc…, cũng đã có một ý tôi cho không phải của Khổng tử mà của Tăng Tử, tức “tri tri tại cách vật”, vì trong Luận ngữ ông không hề nói tới sự cách vật.

Sách Trung dung của Tử Tư, cháu nội Khổng Tử, cũng có những tư tưởng siêu hình, mà Khổng tử tránh phần siêu hình.

Rồi những câu “cương nhu tương thôi nhi sinh biến hóa”, “nhất hạp nhất tịch vi chi biến, vãng lai bất cùng vi chi đạo” (trong Kinh Dịch – Hệ từ thượng) mà nhiều người dẫn (chẳng hạn Trần Trọng Kim trong Nho giáo) và cho là quan niệm về thiên lý, về đạo của Khổng Tử, thì sao tôi thấy có màu sắc của Lão giáo quá.

Ngay như Lễ kí, thiên Tăng Tử Vấn (Tiểu Đái kí) phần lớn không tin được vì xuất hiện sau Khổng Tử bảy trăm năm (thế kỷ II sau Tây Lịch) và do người đời Hán viết.

Căn cứ vào những bộ đó thì không khác gì tô xanh tô đỏ lên học thuyết của Khổng Tử, còn đâu chân diện mục của nó nữa. Từ lâu tôi vẫn bất mãn về điều đó và chỉ thấy mỗi một học giả ở Pháp, ông Etiemble, trong cuốn Confucius (Gallimard 1966) là không dùng phương pháp đó mà chỉ căn cứ vào mỗi hệ Luận ngữ mà thôi.”

(Trích từ Lời nói đầu, Nguyễn Hiến Lê viết ngày 1/7/1978, in trong cuốn Khổng Tử, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1992, trang 7-8).

[4] Đoạn nói về “chó nhà tang” được Tư Mã Thiên ghi trong Sử ký như sau:

“Khổng Tử đến nước Trịnh, thầy trò lạc nhau. Khổng Tử đứng một mình ở phía đông cửa thành. Có người nước Trịnh bảo Tử Cống:

- Ở cửa phía đông có một người trán giống Nghiêu, cổ có vẻ Cao Dao, vai ông ta giống Tử Sản, nhưng từ lưng trở xuống thì kém vua Vũ ba tấc, có vẻ băn khoăn lo lắng như con chó ở nhà có tang.

Tử Cống nói thực với Khổng Tử. Khổng Tử mừng rỡ cười mà rằng:

- Hình dáng bên ngoài là việc vụn vặt, nhưng nói “giống như con chó của nhà có tang” thì đúng làm sao! Đúng làm sao!”

(Trích Sử ký – Tư Mã Thiên, Phan Ngọc dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 1999, trang 163-164)

[5] Trong cuốn Khổng Tử – Luận ngữ với cuộc sống hiện đại, do Dương Minh Hào sưu tầm và biên dịch, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2012, phần Lời mở đầu của Dương Minh Hào cũng ghi một “tin giật gân” tương tự, xin trích nguyên văn:

“Năm 1991 trong tuyên ngôn đại hội những người nhận giải thưởng Nôben toàn cầu tại có câu: ‘Nếu nhân loại muốn được tiếp tục sinh tồn ở thế kỷ 21, thì cần phải trở lại hơn hai ngàn năm trăm năm trước để hấp thu lấy những trí tuệ cũa Khổng Tử.’

Các nhà khoa học trên toàn thế giới đều đã nhất trí cao với nhận thức này.”

[6] Trích Luận ngữ, Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, năm 1994, trang 25.

[7] Trích từ Sử ký – Tư Mã Thiên, bản dịch của Phan Ngọc, sđd, trang 5-6.

Nguồn: http://www.procontra.asia/?p=1225

Sóng ngầm trong quan hệ Việt – Trung – Mỹ

clip_image002

Một người biểu tình đốt cờ Trung Quốc ở Manila. Hà Nội dường như dang rộng vòng tay với với các quốc gia khác cùng chí hướng như Philippines nhằm ngăn chặn sự lấn lướt của Bắc Kinh trên biển Đông.

Năm 2014 chứng kiến mối bang giao Hà Nội – Bắc Kinh rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ, và chưa khi nào, lời kêu gọi lãnh đạo đất nước thoát khỏi cái bóng của Trung Quốc từ người dân Việt Nam lại mạnh mẽ đến vậy.

Cuộc đối đầu trên mọi mặt trận giữa hai quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản, kéo dài suốt gần hai tháng trời giữa năm nay, chỉ ngưng lại, sau khi Trung Quốc rút giàn khoan dầu khổng lồ khỏi nơi mà Việt Nam tuyên bố là thềm lục địa của mình.

Nhưng theo nhận định của các nhà quan sát, cho tới nay, sóng ngầm vẫn còn lan tỏa trong mối bang giao từng được coi là “môi hở, răng lạnh”, dù Trung Quốc đã tìm cách “khôi phục lòng tin” với Việt Nam để đưa quan hệ “đi đúng hướng”.

Ông Dương Danh Dy, nhà nghiên cứu kỳ cựu về Trung Quốc, cựu tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, trong các cuộc trao đổi với VOA Việt Ngữ đều nói về “tham vọng bá quyền” của Bắc Kinh, và ông cho rằng có thể “sẽ còn nhiều chuyện còn xấu hơn” cả vụ giàn khoan gây tranh cãi trong tương lai.

Giới phân tích cho rằng, sau cú sốc nhận được từ “người đồng chí khổng lồ” ở phương bắc, Hà Nội dường như đã "tỉnh mộng" và dang rộng vòng tay với với các quốc gia khác cùng chí hướng như Philippines nhằm ngăn chặn sự lấn lướt của Bắc Kinh trên biển Đông.

Ông Roilo Golez, cựu dân biểu đồng thời từng là cố vấn an ninh quốc gia của chính phủ Philippines, quốc gia đã đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài Quốc tế, nhận định với VOA Việt Ngữ rằng Manila và Hà Nội có nhiều điểm tương đồng trong tuyên bố chủ quyền.

Chúng ta có thể cùng phối hợp nỗ lực tại tòa. Nếu chúng ta nhận được quyết định tích cực từ Tòa án Quốc tế về luật biển (ITLOS), thì tôi nghĩ Trung Quốc sẽ phải đối mặt với sức ép lớn từ cộng đồng quốc tế về việc phải tuân thủ phán quyết của ITLOS. Nếu không, họ sẽ vấp phải sự chỉ trích của quốc tế.

Ông Roilo Golez, cựu cố vấn an ninh quốc gia Philippines.

Ông Golez nói: “Chúng ta có thể cùng phối hợp nỗ lực tại tòa. Nếu chúng ta nhận được quyết định tích cực từ Tòa án Quốc tế về luật biển (ITLOS), thì tôi nghĩ Trung Quốc sẽ phải đối mặt với sức ép lớn từ cộng đồng quốc tế về việc phải tuân thủ phán quyết của ITLOS. Nếu không, họ sẽ  vấp phải sự chỉ trích của quốc tế”.

Thay vì có hành động pháp lý đối với Bắc Kinh như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng lên tiếng, cũng như bất chấp lời kêu gọi của các nhân sĩ, trí thức về việc phát huy "thế mạnh chính nghĩa" của Việt Nam, Hà Nội mới chỉ ‘bày tỏ lập trường’ tới Tòa này về vụ Philippines kiện Trung Quốc để “bảo vệ các quyền và lợi ích pháp lý của mình ở Biển Đông”.

Dù cũng có ý kiến chỉ trích rằng Việt Nam không dám làm mếch lòng Trung Quốc, một số nhà phân tích cho rằng Hà Nội đã khôn ngoan khi “đi cửa hậu”, giúp Hà Nội “có cơ hội được trình bày lý lẽ của mình”.

Trong bối cảnh Trung Quốc có nhiều hành động mạnh mẽ khẳng định chủ quyền trên biển Đông, Việt Nam cũng củng cố quan hệ, nhất là về quân sự, với Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ.

Trong những tháng cuối năm 2014, Washington dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Hà Nội “nhằm tăng cường an ninh và trinh sát trên biển”.

Theo các nhà quan sát, quyết định của Washington cho thấy sự tin cậy chiến lược giữa hai nước trong khi Mỹ theo đuổi chính sách xoay trục về châu Á giữa lúc Trung Quốc đang trỗi dậy.

Ít lâu sau đó, một tù nhân lương tâm từng được Tổng thống Obama nêu tên, blogger Điếu Cày, đã được trả tự do, khiến nhiều người cho rằng Hà Nội đang sử dụng các tù nhân làm con bài mặc cả với Mỹ.

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski từng tuyên bố rằng phía Mỹ muốn mối bang giao với Hà Nội “sâu sắc và bền vững hơn như các mối quan hệ đối tác của Mỹ với các bạn hữu và các đồng minh thân thiết nhất ở châu Á, châu Âu cũng như những nơi khác”.

Tuy nhiên, nhà ngoại giao này nói thêm rằng Hoa Kỳ không muốn "quan hệ đổi chác" với Việt Nam.

Hiện có một cơ hội lịch sử để xây dựng một mối quan hệ gần gũi hơn nhiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhưng chúng tôi không muốn đó là một mối quan hệ đổi chác, tức là chúng tôi đến với Việt Nam khi chúng tôi cần họ vì một cái gì đó và phía Việt Nam đến với chúng tôi khi họ cần chúng tôi vì một cái gì đó.

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski.

Ông Malinowski nói: “Hiện có một cơ hội lịch sử để xây dựng một mối quan hệ gần gũi hơn nhiều giữa Hoa Kỳ và Việt Nam nhưng chúng tôi không muốn đó là một mối quan hệ đổi chác, tức là chúng tôi đến với Việt Nam khi chúng tôi cần họ vì một cái gì đó và phía Việt Nam đến với chúng tôi khi họ cần chúng tôi vì một cái gì đó”.

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh rằng mối quan hệ Hà Nội – Washington cần phải “dựa trên những giá trị chung”, và đó là lý do vì sao Hoa Kỳ “nhấn mạnh rất nhiều tới vấn đề nhân quyền”.

Tuy nhiên, trong hai tháng cuối năm 2014, Hà Nội đã bắt giữ một số blogger, và dù Mỹ đã lên tiếng kêu gọi Việt Nam thả họ ngay lập tức, chính quyền trong nước lại bắt thêm một người viết blog khác.

Tân Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Ted Osius, đã tới Việt Nam nhận nhiệm sở trong tháng này. Nhà ngoại giao kỳ cựu này từng tuyên bố  rằng ông sẽ “thẳng thắn và trực tiếp nói với các lãnh đạo ở Hà Nội rằng việc chính phủ Việt Nam tôn trọng nhân quyền sẽ làm cho họ mạnh hơn, chứ không phải yếu đi, đồng thời tiềm năng của mối quan hệ đối tác cũng sẽ phát triển”.

Với tuyên bố mới đây của cả Bộ trưởng Bộ Công an và Quốc phòng Việt Nam về việc phải quản lý chặt vấn đề an ninh mạng trong năm 2015, nhiều người cho rằng những người có tiếng nói trái chiều trong nước, nhất là các blogger và Facebooker, sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức từ chính quyền trong năm mới.

Chưa rõ là những động thái mạnh tay vừa qua của chính quyền Hà Nội sẽ tác động ra sao tới bang giao Mỹ - Việt.

Theo quý vị, quan hệ Việt – Trung sẽ đi về đâu trong năm 2015? Liệu Việt Nam có sử dụng ‘con bài’ nào đó trong cuộc mặc cả với Mỹ?

Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/song-ngam-trong-moi-quan-he-giua-vietnam-trung-quoc-va-my/2580512.html

Thư giãn: Khẩu chiến từ một câu nói

Thiện Tùng

Năm nay người em thứ chín của tôi nhận giỗ cha tôi thay cho người anh thứ bảy của nó vừa mới qua đời hơn tháng trước.

Vì thay người giỗ, họ tộc gom về khá đông đủ, trong số có anh Ba Tôn, người anh bạn dì với tôi, tuổi 92 và đang “quyền uy” nhứt tộc. Anh Tôn có thâm niên 22 năm làm Chủ tịch huyện – một thời “khạc ra lửa”.

Thông thường, ở nông thôn, khi gặp nhau thường nói cho nhau nghe về sức khỏe và việc làm ăn sinh sống. Giỗ cha tôi lần nầy khác hẳn, đề tài tham nhũng gần như chi phối toàn bộ. Đám trẻ trung moi đâu ra thông tin về những vụ tham nhũng, người nêu sự kiện, kẻ bổ sung chi tiết hết vụ ông Tổng Thanh tra Trần Văn Truyền, vụ Thiếu tướng Giám đốc Công an tỉnh Bến Tre Hồ Quốc Việt đến vụ Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, v.v.

Không thể kềm nén được ức chế, anh Tôn nói như rầy:

- “Nè nè…, tao khuyên tụi bây, thịt rượu ê chề, lo ăn nhậu đi, kẻ nào tham nhũng chết cha nó ráng chịu, xía vào làm gì. Ông Truyền, thằng Việt làm bẩn quê hương Đồng Khởi chưa đủ sao bây còn xới tung lên cho làm gì, công an còng đầu hết bây giờ…?! “Kín miệng thì sống, trống miệng thì chết”, biết chưa?”.

Ông Tám, một cán bộ lão thành ngồi cùng bàn với Ba Tôn “chụp vật” ngay:

- Anh Ba nói vậy là không thuyết phục, chết cha dân thì có: dân nai lưng làm, đóng

thuế…, quan chức tham nhũng ăn ú na ú nần, nhà cao cửa rộng… khó chết lắm

anh Ba ơi! “Cái sống tìm trong cái chết” là câu gợi dẫn phản ứng sinh tồn – chết

trước sau khỏi chết có gì mà sợ?

- Sớm muộn gì Đảng và Nhà nước ta cũng “lột da” bọn tham nhũng hết thôi, đừng nôn nóng – đã xử lý vụ Trần Văn Truyền rồi đó không thấy sao?

- Tham nhũng thì đầy đàng, cấp nào cũng có, lớn ăn lớn, nhỏ ăn nhỏ, xử lý một vài vụ lẹt đẹt theo kiểu giơ cao đánh khẽ như gỡ ghẻ, như trò đùa… không che mắt được ai.

- Chẳng lẽ bắt nhốt hay chặt đầu hết sao? Có giỏi thì hiến kế cho Đảng đi, chỉ có giỏi nói!

- Tôi nói thay cho tiếng khóc để xả tức, cho vơi bớt đau buồn, chớ thân phận hồi hưu có góp ý cũng không có chỗ và chẳng ai nghe, biết làm gì nữa anh Ba?!

- Nếu biết không làm gì được thì an phận như tao, đến tháng nhận lương hưu, ai rủ đi nhậu chơi, rảnh nằm ngửa “nhả khói phun mây nhìn cuộc thê” cho sướng thân!

- Chẳng lẽ anh không biết lương mình nhận hàng tháng là tiền dân đóng thuế?

- Đó là tiền trả công kháng chiến và công góp phần xây dựng đất nước.

- Thấy công cũng phải thấy tội nữa chớ. Chẳng lẽ anh không thấy cái lỗi của chúng mình và không biết xấu hổ với dân về việc để đồng bọn tham nhũng sao?

- Ai tham nhũng người đó có lỗi, xấu hổ… chớ không tham nhũng thì mắc mớ gì?

- Em thì khác anh: Là đảng viên, em chỉ hãnh diện trong thời kháng chiến, bây giờ em thấy nhục lắm, là đảng viên mà bất lực để đồng chí của mình tham lam vô độ. Tội của chúng mình là góp phần đẻ ra đám tham nhũng. Đôi khi em muốn ra khỏi Đảng để khỏi mang nhục lây, nhưng lại sợ dân quy mình là thằng bỏ cuộc, trốn tránh trách nhiệm, tiếp tục trụ lại trong Đảng cũng chẳng làm được gì, đó là nỗi trăn trở khiến nhiều đêm mất em ngủ!

- Đừng quá bi quan, đau buồn như vậy, Đảng và Nhà nước ta cũng luôn quan tâm đến những người có công với dân với nước nước như việc đền ơn đáp nghĩa, truy phong danh tước, những ngày kỷ niệm kháng chiến cũng tổ chức rình rang chớ có lãng quên đâu?

- Việc nầy em nghĩ cũng khác anh: Người ta lấy tiền thuế của dân nhử những người đương nhiệm, ém miệng những người về hưu để họ vừa lòng với hiện tại. Còn việc phong danh hiệu gì đó chỉ đối với những người ngoan ngoãn cúc cung, chớ những người ăn ngay nói thẳng, dầu là cán bộ đảng viên hay người có công, như anh thấy đó, nếu không ngồi tù cũng bị bạc đãi. Việc tổ chức kỷ niệm về kháng chiến hay cả việc học tập về Hồ Chí Minh… chẳng qua là để tâng công theo kiểu “ăn mày dĩ vãng” chớ người ta có thiết gì về những chuyện ấy!

- Vậy là chú mầy thuộc loại bất mãn, hết thuốc chữa rồi!

- Không đến thế đâu, chỉ bất bình trước bất công thôi. Nếu hôm nay người ta bắt em vào tù vì tội “cứng đầu” thì cũng là cái giá phải trả cho sự khờ khạo của mình trong quá khứ. Nếu phải ngồi tù để bảo vệ danh tiết cũng nên lắm. Tính em như Phùng Quán khắc họa:

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dầu ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

Dầu ai ngon ngọt nuông chiều

Cũng không nói yêu thành ghét

Thấy cuộc khẩu chiến có mòi gay gắt, cánh trẻ háo hức muốn “tham chiến” với hai lão già, thằng Chín em tôi cắt: “Giỗ là kỷ niệm ngày mất của người quá cố mà không nói gì về người ấy, đem tham nhũng, thuộc truyện dài nhiều tập, ra tranh luận tôi e không thích hợp, hẹn dịp khác đi. Mời nâng ly để chuyển đề tài!”.

Nể chủ đám, mọi người ép bụng gác lại đề tài tham nhũng. Thế rồi, chẳng có đề tài gì hấp dẫn, mọi người nhìn nhau cười, nhậu.

30/12/2014

T.T.

Tác giả gửi BVN.

Thư gửi cụ Marx

Mộc Thường

Kính gửi cụ Karl Marx,

Tôi là một người dân Việt Nam sinh vào những năm 80 của thế kỷ trước. Khi lớn lên tôi biết được những suy nghĩ mà Cụ đưa ra được hàng triệu người trên thế giới tin theo. Mặc dù về sau số lượng tin theo Cụ có giảm xuống, nhưng hiện tại vẫn còn rất đông, Cụ à. Tôi viết thư này để Cụ biết vậy, tôi nghĩ khi nhận được tin này Cụ hẳn rất vui.

Ngoài ra tôi muốn hỏi cụ vài điều nhân dịp năm mới sắp đến. Cụ có thể cho tôi biết Cụ có phải là một người bình thường không, như có tóc, tai, mũi, miệng chẳng hạn? Cụ ăn thức ăn gì? Và Cụ đọc sách gì? Cụ có thải ra thứ mà những người thường như tôi thải ra hàng ngày không?

Cụ làm ơn cho tôi biết bí quyết làm sao để có được những suy nghĩ vĩ đại để có được nhiều người tin theo? Bật mí với Cụ là ở nước tôi có người sở hữu học hàm Giáo Sư rất tin và theo cụ đấy. Tôi thật sự rất khâm phục Cụ và tôi cũng rất muốn có được những suy nghĩ vĩ đại như vậy để nhiều người tin theo tôi.

Nhân dịp sắp đến giao thừa, tôi kính chúc Cụ an vui bên đó. Đồng thời tôi cũng mong Cụ có thể hồi âm sớm cho tôi, sớm nhất là sau đêm giao thừa, Cụ nhé. Được vậy, sau khi tôi sang bên đó sẽ hậu tạ Cụ thật hậu hĩ.

Kính chào Cụ,

M. T.

Tác giả gửi BVN.

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

Mười phát ngôn ấn tượng nhất Việt Nam trong năm 2014 do Bauxite Việt Nam chọn

(1) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tuyên bố: “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20131023/du-thao-chua-vang-vong-nhu-loi-hieu-trieu/576098.html)

(2) Nhiều người hỏi Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”. (http://www.thesaigontimes.vn/114301/Cai-cach-the-che-tu-cau-hoi-chua-co-loi-giai.html)

(3) Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng thú nhận: “Tôi cứ suy nghĩ mãi một điều, nếu chúng ta đi mà không rõ đi đâu, bằng cách nào, bao giờ đến… thì không bao giờ chúng ta đi nhanh và bền vững được”. (http://www.thesaigontimes.vn/124350/Thu-truong-Bo-KHDT-Chung-ta-di-ma-khong-biet-di-dau.html)

(4) Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa làm sức mạnh quốc gia tăng lên rõ rệt” (http://laodong.com.vn/chinh-tri/kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-lam-suc-manh-quoc-gia-tang-len-ro-ret-184752.bld)

(5) Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng giải thích vì sao không thể kỷ luật Quốc hội: “Quốc hội tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai” (http://vneconomy.vn/2014041110149512P0C9920/dau-tu-cong-quyet-sai-thi-ai-chiu.htm)

(6) Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân phát biểu: Việt Nam là “Một đất nước 69 năm trước không có tên trên bản đồ thế giới”. (http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/gs-nguyen-thien-nhan-khen-hoc-tro-gioi-nhu-nguyen-bo-truong-3074981.html)

(7) Đại tướng Phùng Quang Thanh tha thiết: "Không phong Tướng, anh em tâm tư". (http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Dai-tuong-Phung-Quang-Thanh-Khong-phong-Tuong-anh-em-tam-tu-post151969.gd)

(8) PGS.TS Nguyễn Hữu Tri, Viện phó phụ trách Viện Xã hội học và Khoa học quản lý hiến kế: "Cần luật hóa cho phép chạy chức, chạy quyền". (http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/can-luat-hoa-cho-phep-chay-chuc-chay-quyen-2214305/)

(9) Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh Võ Thị Dung đề xuất: “Quốc hội và Chính phủ cùng hứa không tham nhũng”. (http://vneconomy.vn/thoi-su/quoc-hoi-va-chinh-phu-cung-hua-khong-tham-nhung-20121101070428905.htm)

(10) Thẩm phán Lê Thị Thu của Tòa án Nhân dân huyện Triệu Sơn (Thanh Hóa) nói với người đưa tiền chạy án: "Vì anh là người nhà của cô Niên [Kiểm sát viên Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Triệu Sơn], là người trong ngành, trong cơ quan nên bọn em mới giúp, vì tình cảm bọn em mới làm, còn là dân thì... bọn em sẽ làm theo quy định của pháp luật”. (http://laodong.com.vn/phap-luat/tand-huyen-trieu-son-thanh-hoa-doi-an-hoi-lo-giua-cong-duong-245711.bld)

Giải phẫu một nền độc tài “hậu toàn trị”

Simon Leys

Chân Phương giới thiệu và dịch

Tiếc thương Simon Leys

Sự ra đi của Pierre Ryckmans (bút danh Simon Leys) vào ngày 11-8-2014 là một mất mát khó bù đắp trong giới học giả quốc tế về Trung Quốc và văn hóa Trung Hoa. Sinh ở Bruxelles năm 1935, ông bắt đầu quan tâm đến Trung Quốc sau lần viếng thăm đầu tiên và được tiếp kiến Chu Ân Lai năm 1955. Sau khi lấy tiến sĩ luật học và lịch sử mỹ thuật tại Đại học Louvain, quyết chí theo đuổi sở nguyện ông sang Đài Loan để học chuyên sâu về văn học và mỹ thuật Trung Hoa – Đại Lục Trung Quốc lúc ấy không có chính sách thu nhận sinh viên phương Tây – rồi lấy vợ là dân Đài Loan. Năm 1968 ông sang Hương Cảng giảng dạy tại Hong Kong University, vừa làm dịch giả cho phái bộ ngoại giao Bỉ để kiếm thêm thu nhập vì sinh hoạt nơi đây quá đắt đỏ. Sự tình cờ lịch sử vừa là định mệnh học thuật đối với Simon Leys đã diễn ra trong thời gian ấy; đó là thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa mà ông phải bám sát (qua báo chí Hoa Lục cùng vô số thường dân bỏ trốn Trung Quốc bằng cách liều mạng lội trong đêm vượt biển qua Hương Cảng) để cập nhật hóa tin tức cho phái bộ Bỉ. Nhật ký ông ghi chép trong giai đoạn ấy là tác phẩm đầu tay của ông khi được Paris xuất bản năm 1971 – Les habits neufs du president Mao/ Y phục mới của Mao Chủ tịch. Nhờ thông thạo cả ngữ văn và ngôn thoại, Simon Leys nhìn thấu qua màn sương huyền thoại bao quanh Mao Trạch Đông lúc ấy và phát giác sớm nhất sự tranh chấp quyền lực máu me của các phe cánh Đảng Cộng sản Trung Quốc núp sau mấy phong trào quần chúng và thanh niên bị giật dây. Trong khi trí thức phương Tây, đặc biệt là tả phái Âu-Mỹ, ngưỡng mộ họ Mao và hoan nghênh một cách ngờ nghệch từ xa cuộc Cách mạng Hồng Vệ Binh, Simon Leys đã chứng minh, qua những trang viết thông minh, cương trực, hóm hỉnh, những đức tính tối cần cho nhà sử học hay nghiên cứu chính trị khi chạm phải đề tài tối ám là chế độ toàn trị Á đông: sự tỉnh táo tri thức cộng với kiến văn uyên bác và lão thông ngôn ngữ. Năm 1972, nhờ cơ hội sang Bắc Kinh làm chuyên gia-tùy viên văn hóa tại sứ quán Bỉ, ông có dịp tham quan nhiều thành phố và thôn quê để tiếp tục đào sâu nhận thức chính trị của mình về đất nước bao la đông dân nhất thế giới đang bị chủ nghĩa Mao phá hoại và bạo hành từng ngày. Quá trình quan sát và trải nghiệm ấy được nâng lên thành tác phẩm văn học - chính luận đặc sắc và đậm chất humour riêng của Simon Leys: Ombres chinoises/ Múa bóng ở Trung Quốc xuất bản năm 1974 được giới học thuật đánh giá như một kiệt tác gợi nhớ văn phong Voltaire, Montesquieu... Kể từ đó, sự nghiệp học thuật của ông chia làm hai hướng và đóng góp nhiều tác phẩm mà các trí thức - học giả quan tâm đến văn hóa và chính trị Trung Hoa bắt buộc phải đọc như bản dịch Luận ngữ tài hoa và chuẩn xác bằng thứ tiếng Anh lịch lãm hiếm có.

Bài điểm sách rất ưu ái về Lưu Hiểu Ba sau đây đồng thời là những trang nhận định sâu sắc về chính sự và dân tình Trung Quốc hôm nay – qua đó ta thấy rực lên ánh lửa trí tuệ và đạo lý của một trí thức lớn vừa hết lòng yêu mến và tôn quí nền văn hóa lớn lâu đời nhất ở Á Đông vừa không quên trách nhiệm trí thức thời đại trước sự man trá đầy tội ác của chủ nghĩa toàn trị Bắc Kinh. Đây cũng là bài trước thuật quan trọng cuối cùng của Simon Leys đăng trên tạp chí văn hóa New York Review of Books ngày 9-2-2012 dưới nhan đề “He told the Truth about China’s Tyranny” (Người nói lên Sự Thật về Nạn Chuyên Chế ở Trung Quốc, http://www.nybooks.com/articles/archives/2012/feb/09/liu-xiaobo-he-told-truth-about-chinas-tyranny/). Bài này được in lại trong tập tản văn và bút ký cuối đời của Simon Leys, The Hall of Uselessness, do nhà NYRB xuất bản năm 2013.

clip_image002

Tuyển tập thơ và bút ký của LƯU HIỂU BA, No Enemies, No Hatred (Không thù oán, chẳng có kẻ thù) với khai từ của VÁCLAV HAVEL được Đại học Harvard xuất bản năm 2012 (biên tập – dịch giả: Perry Link, Tienchi Martin-Liao và Liu Xia).

Hơn sự ưng thuận của đám đông là

thái độ bất tuân của một người can đảm!

TƯ MÃ THIÊN

Sự thật sẽ giải phóng mi.

KINH THÁNH theo JOHN

Ngày nay sự thăng tiến kinh tế Trung Quốc ngự trị toàn cảnh bang giao quốc tế. Trong con mắt các chính khách và giới phân tích chính trị, Trung Quốc có tiềm năng trở thành “thế lực kinh tế bành trướng nhất thế giới vào năm 2019.” Các chuyên gia tài chính còn tiên liệu một ngày sớm hơn. Có kẻ cho là “Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn rộng nhất thế giới vào 2016.” Sự thay đổi nhanh chóng này được gọi tên rất đúng là “phép lạ Trung Quốc”. Có sự đồng thuận chung, cả ở Trung Quốc lẫn nước ngoài, cho rằng thế kỷ 21 sẽ là “thế kỷ của Trung Quốc”. Các chính khách quốc tế bay đến Bắc Kinh trong khi giới doanh nhân từ khắp các nước phát triển đổ xô tới Thượng Hải cùng những thủ phủ tỉnh lỵ với hy vọng ký kết được hợp đồng. Âu Châu thì khẩn cầu Trung Quốc ra tay cứu giúp đồng tiền đang lâm bệnh của mình.

Tất cả những ai có nghĩ suy hôm nay ít nhất đều muốn có được vài hiểu biết căn bản về các động lực sâu xa nằm dưới sự biến hóa đột ngột và đáng phục ấy: Bản chất với ý nghĩa thật của nó là thế nào?… Và nó sẽ hướng về đâu? Các tiệm sách hôm nay bị ngập lụt dưới ngọn triều những ấn bản mới nhằm cung cấp thông tin về Trung Quốc, tuy nhiên (theo tôi) cuốn sách mới có nội dung cấp bách và tầm quan trọng cốt tử mà cả giới chuyên gia cùng độc giả phổ thông cần phải đọc là tập hợp các bài ký sự của Lưu Hiểu Ba, được tuyển chọn, dịch và giới thiệu một cách cẩn trọng bởi những học giả đầy uy tín – một công trình có phẩm chất cao nhờ mối quan hệ cá nhân của họ với tác giả. (1)

Giải Nobel Hòa Bình 2010 khiến cho cả thế giới chú ý đến cái tên Lưu Hiểu Ba. Tuy rằng trước đó nhiều năm tiếng tăm ông đã vang rền trong nước Trung Quốc như một người trí thức của công chúng (public intellectual) vô úy có tầm nhìn thấu triệt, tác giả của khoảng mười bảy cuốn sách trong đó gồm các tập thơ, bài phê bình và tiểu luận chính trị (2). Giới chức cầm quyền cộng sản đã bảo chứng một cách thiếu khôn khéo cho các nhận định chính xác không thỏa nhượng của ông. Họ cứ bắt bớ ông vì các quan điểm ấy – bốn lần kể từ vụ thảm sát Thiên An Môn tháng 6-1989. Nay ông lại ngồi tù từ tháng Chạp 2008, và chịu một chế độ lao tù hà khắc đặc biệt mặc dù tình trạng sức khỏe không được khá. Như Pascal từng nói: “Hãy tin vào các chứng nhân nào dám hy sinh tính mệnh” – kẻ chứng nhân biệt lệ này còn có phẩm cách ngoại hạng về nhiều mặt khác, cả về mặt nắm thông tin và trải nghiệm cùng những đức tính trí tuệ với sự cương trực của ông.

Sinh năm 1955 ở miền Đông-Bắc Trung Quốc, Lưu đích thị thuộc thế hệ “con cái họ Mao” – thế hệ vì một trớ trêu lý thú lại sinh sản những kẻ bất đồng chính kiến gan dạ nhất cùng những nhà tranh đấu lưu loát nhất cho nền dân chủ – ví dụ Ngụy Kính Sinh, người hùng của Báo Tường Dân Chủ ở Bắc Kinh trong giai đoạn 1978-79, mười tám năm chịu nạn ngục tù trước khi bị lưu đày sang phương Tây (3). Lưu Hiểu Ba vẫn thường ca tụng các vị mở đường ban đầu ấy. Ông không được tham gia Cách mạng Văn hóa vì còn quá trẻ, nhưng phong trào đó – một cách khôi hài – đã có tác động tích cực đối với đời ông.

Cũng như phần lớn trí thức, cha mẹ ông – vốn là giáo chức – bị đày đi nông trường tập thể ở thôn quê. May thay nhờ đi theo họ, trong nhiều năm Lưu khỏi bị hấp thụ thứ giáo dục chính qui. Sau này nhìn lại ông yêu quí giai đoạn ấy: những năm thất học đó đã cho ông “được tự do”. Thoát khỏi nền sư phạm nhồi sọ kiểu Mao, ông đã vớ đâu đọc đấy nhiều loại sách – có nghĩa mọi thứ ấn phẩm nào rơi vào tay – và nhờ vậy mà tìm ra nguyên tắc chỉ đạo cho ông từ đó: ta phải suy nghĩ cho chính mình.

Sau khi Mao chết, các đại học rốt cục được phép mở cửa lại; năm 1977 Lưu gia nhập nhóm sinh viên đầu tiên được nhận vào các trường cao đẳng, ban đầu tại tỉnh nhà, sau đó ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Chuyên cần nghiên cứu văn học Trung Hoa với thành quả tốt, mười một năm sau ông được bổ chức giảng viên tại đại học này khi lấy xong tiến sĩ. Với đầu óc độc đáo, sự hiếu kỳ tri thức bao la và tài năng diễn đạt, ông cầm chắc trong tay một sự nghiệp hàn lâm rực rỡ. Ông đã tìm được khá sớm một công chúng rộng lớn vượt ngoài khuôn viên lớp học, và được ban tặng danh hiệu enfant terrible (quái kiệt thần đồng) trong giới làm văn hóa ở Trung Quốc.

Trong các cuộc thảo luận về văn học và ý tưởng, mớ quan điểm của ông linh hoạt thoát khỏi qui ước giáo điều; tuy rằng vào giai đoạn còn sớm ấy, ông không đả động đến những vấn đề chính trị. Bước ngoặt phát triển nhân cách của ông xảy đến trong năm 1989, với vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 và diễn tiến sau đó. Trước đó không lâu, danh tiếng của Lưu như một nhà phê phán ý tưởng độc đáo đã mang đến cho ông nhiều giấy mời đi ngoại quốc. Khi đó tại Bắc Kinh phong trào phản kháng chính trị cùng các yêu sách cải cách dân chủ đang dâng đến cao điểm: một đám người đông đảo gồm sinh viên cùng những kẻ ủng hộ với cảm tình viên đã tụ họp và cắm lều tại quảng trường Thiên An Môn, tâm điểm của thủ đô.

Lúc ấy Lưu Hiểu Ba đang ở New York sau khi nhận lời mời giảng dạy chính trị học cho Barnard College thuộc Đại học Columbia. Giống nhiều trí thức Trung Hoa trước đó, ban đầu Lưu đã lý tưởng hóa phương Tây; tuy nhỉên các kinh nghiệm thu thập bên Âu châu trước tiên và sau đó ở Mỹ đã sớm phá tan mớ ảo tưởng của ông. Trong một lần viếng Bảo tàng Metropolitan ở New York, ông trải nghiệm một dạng khải ngộ làm kết tinh nỗi dằn vặt vì tự vấn vào những ngày ấy: ông nhận ra sự nông cạn về kiến văn của mình trước ánh sáng của các nền văn minh huy hoàng và đa dạng trong quá khứ, đồng thời cảm thấy sự bất cập của các lời giải đáp phương Tây đề ra hôm nay cho cảnh huống của nhân loại thời hiện đại. Giấc mộng nhờ Tây hóa để cải cách Trung Quốc của chính bản thân mình đột nhiên ông thấy nó thảm thương như thái độ “một kẻ bán thân bất toại cười nhạo một người toàn thân bại liệt”, ông đã thú nhận vào lúc đó:

Xu hướng lý tưởng hóa văn minh Tây phương phát khởi từ khát vọng dân tộc chủ nghĩa dùng phương Tây để cải cách Trung Quốc của tôi. Nhưng nó đã khiến tôi bỏ sót không nhìn ra các khiếm khuyết của văn hóa phương Tây… Tôi đã khúm núm trước văn minh phương Tây, thậm khen những điều hay tốt của họ, và đồng thời cũng đề cao quá đáng những điều tốt đẹp của mình. Tôi đã nhìn phương Tây không những chỉ là sự cứu rỗi cho Trung Quốc mà còn là đích hướng tự nhiên và chung cuộc của cả loài người. Hơn thế, tôi còn dùng thứ lý tưởng loạn trí ấy để gán cho mình vai trò đấng cứu tinh…

Bây giờ tôi nhận thấy là trong khi có thể giúp ích cho sự cải cách Trung Quốc ngày nay, văn minh phương Tây khái quát mà nói không thể cứu nhân loại.

Nếu ta lùi khỏi văn minh phương Tây trong giây lát, ta có thể thấy nó có đủ mọi khuyết tật của nhân loại nói chung…

Là người đã sống hơn ba mươi năm dưới hệ thống chuyên quyền ở Trung Quốc, nếu tôi muốn suy tư về số phận nhân loại hoặc như thế nào làm một người chân thực, tôi chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc phê phán cùng lúc hai điều. Tôi phải:

1. Dùng văn minh phương Tây như công cụ để phê phán Trung Quốc.

2. Dùng óc sáng tạo của chính tôi để phê phán phương Tây.

Trong khi Lưu còn ở New York, phong trào sinh viên tại Bắc Kinh tiếp tục phát triển mà chẳng ngờ rằng họ không tránh khỏi việc đụng đầu với phe cánh sắt máu trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản – cánh này sau cùng sẽ được Đặng Tiểu Bình thả cương. Nhưng Lưu linh cảm rằng vụ khủng hoảng sắp đến nước cùng, và ông đã có một quyết định nghiêm trọng và hào phóng: từ bỏ mọi an toàn với tiện nghi của chức giáo sư vừa bổ nhiệm ở New York và nhanh chóng quay về Bắc Kinh. Ông đã không rời khỏi quảng trường trong những ngày cuối đầy kịch tính của cuộc biểu tình sinh viên; ông cố gắng thuyết phục họ một cách tuyệt vọng rằng làm chính trị dân chủ phải là “loại chính trị không thù hận và không có thù địch”. Đồng thời, sau khi thiết quân luật được ban hành, ông thương lượng với quân đội hy vọng vào một cuộc triệt thoái bình yên khỏi quảng trường.

Nhờ sự can thiệp của ông, các nhân mạng thoát chết không đếm hết, dù rằng cuối cùng ông chẳng ngăn chặn được sự tàn sát lan rộng – chúng ta vẫn chưa biết bao nhiêu sinh viên, kẻ bên đường vô can, thậm chí những người cứu thương tình nguyện đã biến mất trong cuộc tắm máu trong đêm chung quyết ấy (4). Bản thân Lưu bị bắt ba ngày sau vụ thảm sát và bị cầm tù không án tòa trong hai năm sau đó. Khi ra khỏi tù ông biến thành con người khác. Đại học không cho ông giảng dạy, và ông bị cấm xuất bản và diễn thuyết trước công chúng tại Trung Quốc.

Tuy nhiên nhờ Internet (“Internet đúng là món quà Trời cho dân Trung Quốc”, sau này ông có nói như thế), Lưu có thể triển khai một sự nghiệp mới là bình luận viên tự do ngoài biên chế (freelance commentator) về xã hội và văn hóa Trung Quốc. Những bài viết với bút ký của ông được phát hành ngoài nước trong đủ loại báo định kỳ Hoa văn (nhiều nhất ở Hương Cảng và Đài Loan); và ngay chính trong nước ông cũng vươn đến khối độc giả mạng rộng lớn mà đám quan chức kiểm duyệt bực tức nhưng khó ngăn chặn được. Ảnh hưởng và uy tín của ông trong giới bất đồng chính kiến Trung Quốc lên đến cao điểm vào tháng 12-2008 khi ông bảo trợ cho Hiến Chương 08 – tài liệu tập thể noi theo ví dụ do Václav Havel và các bạn ông tạo ra ba mươi năm trước ở nước cộng sản Tiệp Khắc là Hiến Chương 77.

Hiến Chương 08 là một mẫu mực của tinh thần ôn hòa và lý trí bình tĩnh khi trình bày những nguyên lý nền tảng cùng các quyền căn bản khả dĩ gợi hứng cho cuộc cải cách chính trị đã quá trễ muộn ở Trung Quốc: một lý tưởng dân chủ, tinh thần nhân đạo và bất bạo động, được bảo đảm về mặt thể chế bởi sự phân quyền và tự do bày tỏ ý kiến, “tranh đua tự do và sòng phẳng giữa các đảng phái chính trị”, với sự thiết lập một nền cộng hòa liên bang (điều đã được hình dung một thế kỷ trước khi nền cộng hòa Trung Hoa đầu tiên được lập ra).

Chẳng có chi là khiêu khích hay cực đoan trong một chương trình như thế. Triệu Tử Dương – cựu thủ tướng Trung Quốc (1980-1987), từng là Tổng bí thư Đảng (1987-1989) vừa là Tổng công trình sư của phong trào cải cách và mở cửa ra thế giới đầu tiên trong thời kỳ sau Mao – đã phát biểu những quan điểm tương tự Hiến Chương 08 một cách đáng kể trong những năm sau cùng của ông (5). Đến lúc cuối đời khi bị lưu đày tại gia, Triệu đã đi đến kết luận – được diễn đạt rõ nghĩa trong di chúc chính trị của ông – là cần phải cải cách hệ thống chính trị Trung Quốc:

Chuyên chính vô sản đã trở thành một cơ chế chết cứng, thuần túy hình thức nhằm bảo vệ sự cai trị độc đoán của một thiểu số hay một cá nhân; con đường cho tương lai hướng đến hiện đại hóa thực sự là nền dân chủ nghị viện – theo kiểu mẫu phương Tây. Sự chuyển biến này có thể đòi hỏi một thời kỳ quá độ khá lâu nhưng có thể làm được, bằng chứng là Đài Loan và Nam Hàn… (6)

Mọi bài ký sự của Lưu Hiểu Ba trong tập sách này đều bàn về giai đoạn hai mươi năm kéo dài từ vụ Thiên An Môn đến Hiến Chương 08. Trong suốt thời gian này, dù bị bắt và giam cầm không xử án, ông đã hoạt động tích cực trong giới báo chí chính trị ngoài biên chế. Không công ăn việc làm, ông tìm cách đắp đổi qua ngày bằng ngòi bút. (7)

Có vài ký sự tập trung vào mấy biến cố đặc thù từ đó tác giả rút ra những bài học sâu xa hơn; các bài khác đề cập đến những vấn đề xã hội-chính trị và văn hóa rộng hơn, được minh họa bằng ví dụ từ các sự kiện vừa xảy đến.

Một ví dụ tốt cho loại thứ nhất là bài viết quan trọng phơi bày trường hợp gớm ghiếc của “Những lò gạch đen”. (Sau này, trong lần ra tòa chót của Lưu, đây là một trong sáu bút ký được dẫn chứng để kết tội ông có âm mưu “chống phá quyền lực Nhà Nước.”) Tháng 5-2007, phụ huynh có con em mất tích ở tỉnh Hà Nam đã thông báo sự tình cho các ký giả can đảm của đài truyền hình địa phương. Hóa ra đám điều hành các lò gạch bên tỉnh Sơn Tây đã tổ chức các mạng lưới bắt cóc rộng khắp để cung ứng lao động nô lệ cho các lò của họ, và quan chức địa phương ở hai tỉnh hình như đã đồng lõa với mấy vụ tội phạm ấy.

Công an đã tỏ ra đặc biệt vô tích sự khi họ cố phá vỡ các mạng lưới ghê tởm ấy: số trẻ em tìm thấy và được cứu thoát chỉ là con số nhỏ mười phần trăm của hơn nghìn mạng mất tích. Hình phạt, thường là không nương tay với ai dám bất tuân quyền lực Đảng, lại có vẻ chiếu lệ và phiên phiến một cách lộ liễu. Chín mươi lăm đảng viên với quan chức đã dính vào vụ này, nhưng họ chỉ bị “kỷ luật Đảng” mà chẳng phải chịu án tội phạm. Quan chức cao hơn chỉ bị “Đảng nghiêm trọng cảnh cáo”. Lưu kết luận: “Với mọi ưu thế và tài lực mênh mông, Nhà nước đầy quyền hành vẫn chưa sẵn sàng đương đầu với xã hội đen.” Mối quan tâm chính của Đảng Cộng sản là nắm giữ chặt độc quyền đối với mọi cán bộ nhà nước. Quan chức các cấp đều được bổ nhiệm, thăng quan hay bãi chức dựa vào sự định đoạt của một nhóm riêng: đó là Đảng.

Ưu tiên thứ nhất của quan chức bao giờ cũng là phục vụ cấp trên (bởi làm như thế đương nhiên có lợi cho mình) chứ chẳng phải phục vụ dân chúng phía dưới.

Còn hệ thống pháp lý – cũng được Đảng dùng để bảo vệ độc quyền về quyền lực – thì rất mực ngần ngại đụng vào các vấn đề có quan hệ đến liên minh giữa Đảng với xã hội đen:

Ở Trung Quốc, xã hội đen và bộ máy quan chức đã hòa trộn với nhau thành một. Các thành phần tội phạm được trao chức vụ trong khi quan chức biến thành tội phạm. Bọn nắm đầu xã hội đen có danh phận trong Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc [Quốc hội – người dịch] và trong Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc [nói tắt là Chính Hiệp, một tổ chức tương tự như Mặt trận Tổ Quốc của Việt Nam – người dịch], trong lúc quan chức chế độ mượn tay xã hội đen để trấn áp dân chúng địa phương.

Một ký sự khác bàn về “Vấn đề đất đai”. Vào thời Mao, nông dân mất hết đất khiến họ lâm vào tình cảnh chẳng khác gì nông nô trong các “công xã”. Họ buộc phải lao động trên mảnh đất không còn thuộc về mình. Trong cuộc Đại Nhảy Vọt điên cuồng lắm tai ương, nông dân đói nghèo đến mức không còn lương thực để ăn và áo quần để mặc. Ở vài nơi, dân chúng phải ăn thịt người. Hơn bốn mươi triệu mạng chết vì đói trong nạn đói lớn do Mao gây ra từ 1958 đến 1962. Không bao lâu sau khi Mao chết năm 1976, một “cuộc giải phóng nửa vời “diễn ra đối với đám nông nô: nông dân được quyền canh tác – nhưng không được sở hữu ruộng đất – chừng nào đất nông nghiệp chưa đụng phải các dự án phát triển vì khi ấy nó chuyển trở lại thành tài sản nhà nước.

Giới quan chức nắm trong tay quyền hành nhà nước và nhân danh quyền sở hữu đất đai của nhà nước đã móc ngoặc với đám doanh nhân trên khắp đất nước chúng ta… Những kẻ thủ lợi nhiều nhất từ các vụ chuyển giao đất đai ở mọi cấp là chế độ cộng sản và tập đoàn nắm quyền lực… Dân làm nông nghiệp là thành phần yếu nhất giữa những người yếu thế. Không có báo chí tự do và pháp quyền độc lập, họ không có tiếng nói công khai, không được quyền tổ chức các hiệp hội nông nghiệp, và không có phương tiện để kiện tụng… Và chính vì vậy mà dân chúng một cách tự nhiên phải tìm đến các hành động tập thể bên ngoài hệ thống, khi mọi cố gắng cầu cạnh đều bị chặn nghẽn trong lòng hệ thống…

Phần lớn các đụng độ trọng đại ở Trung Quốc mấy năm gần đây đã xảy đến do thường dân chống lại quan chức. Phần lớn đều diễn ra từ đám dân quê ở hương thôn, và đa phần có liên quan đến ruộng đất. Bảo vệ quyền lợi cho cấp trên, quan chức địa phương đã vận dụng không đắn đo một loạt phương tiện man rợ, từ bạo lực của nhà cầm quyền đến bạo lực của đám tội phạm xã hội đen, để trấn áp các vụ nổi dậy.

Ngoài mấy bài ký sự bàn về các điều bất công cùng nhiều dạng tội phạm của sự lạm dụng quyền lực, những bài viết khác chú trọng đến các vấn đề tổng quát hơn: chẳng hạn, ý nghĩa và những điều hàm ẩn của việc Trung Quốc trỗi dậy như một đại cường đang còn là một nghi vấn lớn chưa định đoạt. Sự lớn mạnh quá nhanh của nền kinh tế thị trường cùng ý thức ngày càng tăng trong dân chúng về các quyền tư hữu đã sản sinh yêu cầu to tát và phổ biến đòi thêm tự do, và điều này sau cùng có khả năng tác động đến vị thế quốc tế của Trung Quốc. Mặt khác, chính quyền cộng sản

khi cố sức bảo vệ hệ thống chuyên chính cùng các đặc quyền của tập đoàn nắm giữ quyền lực đã biến thành trở ngại lớn nhất ngăn chặn sự vận động hướng về tự do… Khi nào Trung Quốc vẫn còn là một nhà nước chuyên chính độc đảng, nó sẽ chẳng bao giờ trỗi dậy thành một đất nước văn minh và trưởng thành…

Cộng sản Trung Quốc đang tập trung vào kinh tế, tìm cách hội nhập với sự toàn cầu hóa, và gạt bỏ ý thức hệ của họ trước kia để ve vãn bạn bè trên thế giới.

Trong nước, họ tìm mọi cách bảo vệ hệ thống chuyên chính, [trong khi ngoài nước] họ biến thành cái máy tiếp huyết cho các chế độ độc tài khác… Khi sự trỗi dậy của một nhà nước chuyên chính rộng lớn đang nhanh chóng làm chủ sức mạnh kinh tế gia tăng và không bị ngăn ngừa một cách có hiệu quả từ bên ngoài mà chỉ gặp một thái độ hòa hoãn trên chính trường quốc tế, và một lần nữa nếu những người cộng sản lại lôi kéo thành công cả nước vào con đường lịch sử trật hướng đầy tai ương, kết quả sẽ không chỉ là một đại họa khác cho dân Trung Quốc mà còn có khả năng gây nguy hại đối với sự lan rộng của trào lưu dân chủ tự do trên trái đất. Nếu cộng đồng quốc tế muốn khỏi phải trả giá cho các hiểm họa ấy, các nước tự do phải làm những gì mình có thể làm để giúp cho nền chuyên chính lớn rộng nhất trên thế giới tự chuyển biến càng nhanh càng tốt thành một nước tự do và dân chủ.

Nhưng có thể hy vọng một sự chuyển biến như thế sẽ xảy ra chăng? Tự nó chế độ này chết cứng. Sau hơn hai mươi năm “cải cách”, đặc điểm duy nhất mà Đảng Cộng sản vẫn duy trì vô điều kiện từ ý thức hệ Mao là nguyên tắc độc quyền tuyệt đối quyền lực chính trị. Không có triển vọng xuất hiện một tổ chức nào có thể hội tụ đủ sức mạnh chính trị để thay đổi chế độ trong thời gian trước mắt. Lưu viết: “Trong tập đoàn nắm quyền bính không có… dấu hiệu nào cho thấy sẽ xuất hiện một gương mặt khai minh như Gorbachev hoặc Tưởng Kinh Quốc – hai người đã lái Liên Xô và Đài Loan về hướng dân chủ.” Trong những ngày tháng tới, xã hội dân sự không có khả năng sản sinh một tổ chức chính trị để thay thế chế độ công sản.

Trong một bút ký mang tên “Cải biến xã hội để thay đổi chế độ” (cũng bị nêu làm chứng cứ trong vụ xử tội ông), Lưu kê khai những điều ông hy vọng: vẫn còn chuyên quyền chính trị nhưng dân chúng sẽ không dốt nát hay rời rạc như nguyên tử; sẽ có ý thức đoàn kết mới trước bất công, và nỗi bất bình thường tình chống lại tệ tham nhũng lộ liễu cùng nạn lạm dụng quyền thế đủ loại của quan chức địa phương. Lòng can đảm dân sự sẽ có tiến triển mới, ý thức về các quyền của người dân cao hơn. Sự độc lập kinh tế tăng lên cũng sẽ tạo thêm nhiều tự do cho các công dân khi di chuyển, sở hữu và chia sẻ thông tin.

Đặc biệt mạng Internet tạo khả năng trao đổi và tán phát các ý kiến bằng những phương cách phần nhiều thoát khỏi sự kiểm duyệt nhà nước; mức kiểm soát tư tưởng và ngôn luận càng ngày càng mất hiệu lực (8). Để trở thành một xã hội tự do, con đường duy nhất cho Trung Quốc là sự cải thiện từng bước từ dưới đi lên. Sự cải biến xã hội từng bước ấy sớm muộn sẽ buộc chế độ phải đổi khác.

Tuy nhiên, mâu thuẫn trực tiếp với các hy vọng trên, Lưu cũng miêu tả một cách xám xịt cảnh sa mạc tâm linh của văn hóa thị thành trên đất nước “Trung Quốc hậu-chuyên chính”. Giới cầm quyền đang áp dụng một đường lối chặt chẽ nhằm loại trừ quá khứ gần đây ra khỏi ký ức. Vụ thảm sát Thiên An Môn hoàn toàn bị xóa trắng trong đầu óc của một thế hệ mới – trong khi thứ chủ nghĩa dân tộc thô thiển thỉnh thoảng lại được thúc roi để đánh lạc hướng quan tâm khỏi các vấn đề nhức nhối hơn. Văn học, tạp chí, phim ảnh cùng video đều tràn ngập sex với bạo lực, và phản ảnh “sự suy đồi đạo lý trong xã hội chúng ta”:

Trung Quốc đã bước vào Thời Đại Đểu Giả (Age of Cynicism) khi mà thiên hạ không còn tin vào bất cứ cái chi… Kể cả quan chức cao cấp cùng các đảng viên cộng sản cũng chẳng còn tin vào sự lải nhải của Đảng. Lòng chung thủy với các tín điều yêu dấu đã bị thay thế bởi sự trung thành với bất cứ điều gì mang lại lợi lộc vật chất. Sự nhồi nhét ý thức hệ không ngưng nghỉ của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã sản sinh những thế hệ dân chúng với trí nhớ trống không…

Thế hệ thị dân sau Thiên An Môn được nuôi lên với viễn ảnh những điều kiện sống tốt đẹp vừa phải, [nay ôm ấp các mục đích chính yếu] là trở thành viên chức nhà nước, làm giàu, hoặc đi ra nước ngoài… Họ không đủ kiên nhẫn chịu khó nghe kể lể về chuyện khổ đau trong lịch sử… Nạn đói lớn vào thời Đại Nhảy Vọt? Cách Mạng Văn Hóa phá nát tất cả? Thảm sát Thiên An Môn? Mọi thứ phê phán chính quyền và phơi trần mặt tối của xã hội là hoàn toàn không cần thiết đối với họ. Họ thích mang lối sống hưởng thụ của họ cộng thêm những câu chuyện do nhà nước cung cấp ra làm bằng chứng cho sự tiến bộ choáng mắt của Trung Quốc.

Tôi có biết những người phương Tây đầu óc phóng khoáng từng chạm trán với luân lý khắt khe thái quá (extreme puritanism) vào thời của Mao – họ ngây ngô suy diễn rằng cách mạng tính dục sớm muộn sẽ bùng như mìn nổ để khai mở con đường đưa đến một xã hội tự do hơn, sau bao năm tháng đè nén ức chế. Ngày nay đúng là có cuộc hội diễn dục tính (erotic carnival – chữ của Lưu) gồm cả sex, bạo lực, tham muốn đang quét khắp đất nước, nhưng làn sóng này – theo sự miêu tả của Lưu – chỉ phản ảnh sự suy đồi đạo lý của một xã hội đã bị tước sạch mọi thứ giá trị trong những năm dài chịu đựng sự bạo hành của chế độ toàn trị: “Nỗi khát khao cách mạng chính trị những thập niên trước đây nay đã biến thành nỗi khát khao tiền bạc và sex.

Một số kẻ tả khuynh đổ lỗi cho thị trường mở rộng với sự toàn cầu hóa đã gây nên nỗi trống vắng tâm linh và đạo lý trong xã hội Trung Quốc; nạn tham nhũng phình to ở Trung Quốc cũng được qui tội như thế. Trái lại, Lưu cho rằng ta phải quay về thời của Mao để tìm dấu vết cho các gốc rễ sâu của thói đểu giả, nạn trụy lạc và phá sản luân thường hôm nay. Chính khi đó, vào những năm tháng được sự hoài cổ tả khuynh ngày nay tô vẽ như một thời của đạo đức thanh liêm mà tâm linh dân tộc phải hứng chịu sự tàn phá tệ hại nhất; chế độ lúc ấy

phi nhân và vô đạo… Cuộc đấu tranh tàn ác của chuyên quyền kiểu Mao đã ngấm vào toàn xã hội khiến thiên hạ thi nhau bán linh hồn: thù chồng hận vợ, tố cáo cha, phản bội bạn, tấn công tập thể một nạn nhân không sức kháng cự, nói bất cứ điều gì miễn sao đúng lập trường. Những dùi cui thô lỗ bất cần phải trái là các chiến dịch chính trị của Mao hết đợt này đến đợt khác như màn diễn binh không ngừng đã phá nát những khái niệm đạo lý thông thường trong đời sống Trung Quốc.

Mô thức này đã giảm bớt trong những năm sau Mao nhưng thật ra chưa biến mất hẳn. Sau vụ thảm sát Thiên An Môn, chiến dịch cưỡng bức bôi xóa ký ức một lần nữa lại ép buộc người dân phải phản bội lương tâm mình trong những buổi trình diễn công cộng để thể hiện lòng trung thành với chế độ. Nếu Trung Quốc đã biến thành một đất nước nơi dân chúng chịu dối gạt lương tâm của chính họ thì làm cách nào chúng ta có thể xây dựng những giá trị công cộng lành mạnh được?”. Và Lưu kết luận:

Làm cho Trung Quốc nát bấy về đạo đức, tính chất phi nhân của thời kỳ Mao là nguyên nhân nghiêm trọng nhất sinh ra khoảng trống đạo lý lan rộng ta thường nghe nhắc đến ngày nay. Trong tình trạng đó, sự buông thả tính dục trở thành kẻ cộng sự tiện lợi cho nền chuyên chính vẫn cố kềm chặt một xã hội đang vươn lên sự thịnh vượng… Tự do tính dục là một ý niệm không hỗ trợ nền dân chủ chính trị nhiều khi nó khôi phục truyền thống trác táng hoang dâm vào thời các đế chế Trung Hoa… Các nhà độc tài hôm nay chấp nhận tình trạng này một cách thoải mái. Nó phù hợp với sự băng hoại luân lý và nạn băng đảng chính trị nảy sinh từ nhiều năm đạo đức giả, nó khiến cho niềm khao khát tự do đi lạc hướng vào một vùng chẳng ăn nhằm gì đến chính trị.

Trong một bài viết ngắn cuối vào tháng 11-2008, Lưu nhìn “Đằng sau ‘Phép lạ Trung Quốc’”. Tiếp theo vụ thảm sát Thiên An Môn, Đặng Tiểu Bình tìm cách phục hồi uy quyền của mình cùng tính chính đáng cho chế độ sau khi cả hai thứ đã tan hoang vì vụ thảm sát. Ông ta lập đề án thiết lập quyền lực bằng phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế khởi sự nở rộ, nhiều quan chức thấy ra cơ hội kiếm lợi chóng vánh và to tát. Việc theo đuổi tư lợi bất kể sai trái của họ biến thành đầu máy của sự bùng phát kinh tế sau đó. Những cơ sở độc quyền nhà nước sinh lợi nhiều nhất rơi vào tay một nhóm nhỏ quan chức đầy thế lực. Đảng Cộng sản chỉ còn nguyên tắc duy nhất: bất cứ hành động nào cũng có thể biện minh nếu nền chuyên chính vẫn được duy trì và của cải chia chác với nhau nhiều hơn. Lưu kết luận:

Tóm lại, sự chuyển biến kinh tế ở Trung Quốc nhìn từ bên ngoài có vẻ sâu rộng, thực ra mong manh và chỉ có mặt nổi. Sự phối hợp các yếu tố tinh thần và vật chất từng thôi thúc cuộc cải cách chính trị vào những năm 80 – trí thức có suy nghĩ tự do, thanh niên đầy nhiệt huyết, doanh nghiệp tư nhân chưa quên đạo lý, các nhà bất đồng chính kiến trong xã hội, và phe cánh phóng khoáng tự do trong nội bộ Đảng – đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó, chúng ta gặp thứ kế hoạch kinh tế một chiều chỉ thèm khát đuổi theo lợi nhuận.

Một tháng sau khi viết mấy dòng này, Lưu bị bắt ngày 8-12-2008, sau đó bị kết tội “kích động lật đổ quyền lực nhà nước” – khi mà hoạt động của ông trước đó bao giờ cũng chỉ là phát biểu các ý kiến của mình. Sau màn xử án dàn dựng – công chúng không được phép đến dự – ông bị kêu án tù mười một năm vào ngày 25-12-2009 (9). Khi ông được Nobel Hòa Bình năm sau, nhà cầm quyền Trung Quốc đã phản ứng một cách cuồng trí: vợ, bạn bè và những người quen biết ông đều bị bắt bớ một cách tùy tiện để bảo đảm là không ai có thể thay mặt ông đến Oslo nhận giải. Hôm nay, vợ ông là Lưu Hà đã bị giam giữ tại gia mà không bị kêu án. Các biện pháp đầy kịch tính ấy có một tiền lệ lịch sử hiển nhiên: năm 1935, nhà cầm quyền Nazi cũng đã xử sự tương tự khi cầm tù nhà bất đồng chính kiến Carl von Ossietsky. (10)

Tại buổi lễ ở Oslo, thay thế cho người được giải vắng mặt là chiếc ghế trống. Trong vòng ít tiếng đồng hồ sau, hai chữ “ghế trống” bị cấm tuyệt trên mạng Internet ở Trung Quốc; nếu hai chữ ấy hiện lên bất cứ nơi đâu, cả bộ máy kiểm duyệt tự động phát khởi ngay.

Các chuyên gia ngoại quốc trong đủ loại tổ chức tình báo cố gắng đánh giá sức mạnh tăng vọt của Trung Quốc về chính trị, kinh tế và quân sự. Giới lãnh đạo Trung Quốc chắc có nhiều khả năng nhìn thấy rõ quyền lực của họ. Thế thì tại sao họ lại hãi sợ đến mức ấy một thi sĩ viết bút ký mảnh mai yếu thế, bị giam cầm trong ngục thất cách biệt với mọi người? Tại sao chỉ nhìn thấy chiếc ghế trống ở tận đầu bên kia lục địa Âu-Á đã khiến họ hoảng loạn lên như thế? (11)

S. L.

Chân Phương

dịch sang Việt ngữ vào trung tuần cuối tháng Chạp, 2014

Chú thích:

(1) Thực ra là hai cuốn sách; một tuyển tập tương tự (tuy không đồng nhất) bằng tiếng Pháp, xuất hiện trước vào năm 2011: Liu Xiaobo [Lưu Hiểu Ba], La philosophie du porc et autres essais (Triết học của loài lợn và những tiểu luận khác), Jean-Philippe Béja tuyển, dịch và giới thiệu (Paris: Gallimard). Vì nội dung của hai cuốn không hoàn toàn trùng khít, người ta mong có một cuốn thứ ba kết hợp hai cuốn kia. Để có thêm thông tin về chính Lưu – vợ ông, các hoạt động, vụ bắt giam và phiên tòa, xem Perry Link, Liu Xiaobo’s Empty Chair (New York Review Books e-book, 2011).

(2) Một tuyển tập mới thơ của ông, do Jeffrey Yang dịch sẽ được nhà Graywolf xuất bản vào tháng Tư, với tên June Fourth Elegies.

(3) Ngụy Kính Sinh (sinh năm 1950) trong cuộc Cách mạng Văn hóa là một Hồng vệ binh đi lang thang khắp Trung Quốc: nhờ thế ông khám phá ra nông thôn bị cơn điên rồ của chủ nghĩa Mao đẩy vào vực thẳm của sự khốn khổ và tuyệt vọng cùng cực. Phác giác sớm sủa này cuối cùng dẫn ông đến dán lên Bức tường Dân chủ tuyên ngôn trọng yếu của ông: “Sự hiện đại hóa thứ năm: Dân chủ” (1978). Ông bị bắt ngay (ở Trung Quốc, ủng hộ dân chủ là một cái tội) và phải chịu 18 năm tù, bị đối xử rất khắc nghiệt – lao động nặng, biệt giam. Được trả tự do năm 1997, ông bị buộc phải lưu vong và hiện đang sống ở phương Tây. Về chuyện này, xem Wei Jingsheng (Ngụy Kinh Sinh), The Courage to Stand Alone: Letters from Prison and Other Writings (Viking, 1997). Cuốn sách này được Liu Binyan điểm, The New York Review, ngày 17 tháng 7, 1997.

(4) Theo lệnh của nhà cầm quyền, nhiều thi thể không xác định danh tính bị chôn hay thiêu một cách bí mật. Chứng bệnh quên do nhà nước bắt buộc đã ngay tức khắc chôn vùi toàn bộ tội ác với một hiệu quả khủng khiếp. Cho dù ban đầu thế giới bên ngoài bị choáng váng, nó cũng không nhớ lâu. Tuy thế – như Phương Lệ Chi nhớ lại cách đây không lâu (The New York Review, ngày 10, tháng 11, 2011, xem ở đây), vào cao trào của “Mùa Xuân Ả Rập”, Đại tá nghĩ rằng đúng ra phải tỏ lòng kính trọng đối với sự khôn ngoan của những tay đao phủ Thiên An Môn.

(5) Triệu Tử Dương phản đối việc áp đặt tình trạng thiết quân luật dẫn trực tiếp đến cuộc thảm sát Thiên An Môn; kết quả, ông bị Đặng Tiểu Bình cách chức và quản chế tại gia cho đến khi chết (2005). Trong những năm cuối đời, Triệu bí mất ghi băng hồi ức của mình; việc ghi âm này được người cộng sự thân thiết và là thư ký của Triệu là Bào Đồng xác thực, giới thiệu và phổ biến ra nước ngoài. Xem bản tiếng Anh Prisoner of the State: The Secret Journal of Premier Zhao Ziyang, Bao Pu, Renee Chiang, và Adi Ignatius dịch từ tiếng Hoa và biên tập với lời đề tựa của Roderick MacFarquhar (Simon and Schuster, 2009). Cuốn sách được Jonathan Mirsky điểm, The New York Review, ngày 2, tháng Bảy, 2009.

(6) “Căn cứ vào thực tiễn Trung Quốc, chúng ta cần một giai đoạn quá độ tương đối dài. Về chuyện này, kinh nghiệm của các nước khác ở châu Á đáng cho chúng ta lưu tâm. Chẳng hạn, các lãnh thổ và các quốc gia như Đài Loan và Nam Hàn thực hiện một sự quá độ dần dần từ hệ thống cũ sang hệ thống nghị viện và có những kinh nghiệm tích cực mà chúng ta học được thì sẽ có ích”. Zhao Ziyang [Triệu Tử Dương], Prisoner of the State, tr. 271.

(7) Ông nói: “Internet như một cỗ máy kỳ diệu, giúp chữ tôi phun ra như suối. Nay tôi thậm chí có thể sống dựa vào những gì tôi viết ra.”

(8) Ở Trung Quốc có hơn 450 triệu người dùng Internet. Điều này đưa đến những khá năng về chính trị khiến nhà cầm quyền hoảng sợ. Lưu nói: “Nay, bằng chiếc máy tính, tôi nối với toàn bộ thế giới theo một cách trước đây không thể tưởng tượng được. Máy tính làm cho việc thu thập thông tin, tham vấn với người khác, soạn bài vở, chuyển bản thảo dễ dàng hơn rất nhiều… Internet cho công luận một sức mạnh mới… [Nó] khiến cho ta có thể thực hiện một loại “tự do hội họp” trong không gian ảo”.

(9) Ngày 23, tháng 12, 2011, nhà văn Trần Vệ – bị bắt vào tháng Hai sau khi đưa bài viết lên mạng đòi tự do ngôn luận và những cải cách chính trị khác – bị tuyên cùng một tội, là “xúi giục lật đổ nhà nước” và bị kết án chín năm tù, sau một phiên tòa diễn ra trong hai giờ.

(10) Những người được giải Nobel khác cũng bị ngăn không cho đến Oslo: Andrei Sakharov, Lech Wałesa, và Aung San Suu Kyi ít ra cũng đưa được người thay mặt mình đến dự lễ. Boris Pasternak phải từ chối giải Nobel năm 1958, nhưng vẫn ở bên ngoài nhà tù. Aleksandr Solzhenitsyn thì không ở tù sau khi được giải thưởng, và nhận giải sau khi rời bỏ Liên Xô năm 1974.

(11) Độc giả sẽ thấy tôi đưa ra một câu hỏi của riêng tôi về một đất nước khác trong phần Thư từ của số báo này.

Dịch giả gửi BVN.

Vài lời bàn về Khổng Tử và Học viện Khổng Tử

Trần Quang Đức

Hai hôm nay, nhiều bạn facebook tag tôi vào những stt xoay quanh việc Học viện Khổng Tử đầu tiên được đặt tại một trường đại học của Việt Nam. Cá nhân tôi, tôi không ủng hộ việc này. Bởi như nhiều người đã tìm hiểu, Học viện Khổng Tử không đơn thuần nhằm “quảng bá tiếng Trung Quốc”. Ở Âu Mỹ, các học viện này đã có những hoạt động như đả phá Pháp luân công, kỳ thị tín ngưỡng (Đại học McMaster, Canada), cổ động sinh viên ủng hộ Trung Quốc trấn áp Tây Tạng (Đại học Waterloo, Canada), không cho sinh viên talk về vấn đề Tây Tạng, hạn chế ngôn luận (Đại học Chicago, Mỹ), v.v. Đó cũng chính là nguyên nhân chính khiến một loạt các nước Âu Mỹ tẩy chay học viện này.

Hiện nay, xét riêng số HVKT đặt tại các trường đại học trong khu vực, Hàn Quốc có 17 viện, Nhật Bản có 13, Thái Lan có 12, Indonesia có 7, Philippines có 3, Singapore có 2. Đây là lần đầu tiên, HVKT đặt tại Việt Nam. Mặc cho những phản ứng muôn hình muôn vẻ của trí thức, trí ngủ trong ngoài nước, đây là câu chuyện đã rồi, và là câu chuyện trên bàn tròn của những người anh em cộng sản hai nước. Việc thiết thực có thể làm hiện nay là theo dõi sát sao động tĩnh của học viện này, và phản ứng kịp thời khi nó có những hoạt động can thiệp nằm ngoài bổn phận.

Tuy nhiên, tôi muốn lưu ý mấy điểm dưới đây, hầu mong những người phản đối HVKT hiểu rõ hơn mình đang phản đối thứ gì, tư tưởng gì.

1. Khổng Tử của đời thật và Khổng Tử sau khi bị các chính thể lợi dụng

Bản thân Khổng Tử là người chính trực, nghiêm túc, kiên trì đến độ đáng thương, “biết đạo không thể thi hành mà vẫn làm”. Ông ta không được trọng dụng ngay khi còn sống. Trong bối cảnh văn hóa suy đồi, chính trị băng hoại thời Xuân Thu, tinh thần chấn hưng lễ nghĩa, quảng bá học thuật của Khổng đã khiến ông nửa đời lang bạt các nước như ‘con chó mất nhà’ theo cách ví của Tư Mã Thiên. Vào thời Hán, lần đầu tiên, đạo Khổng được trọng dụng. Nhưng tư tưởng nguyên sơ của Khổng đã bị uốn bẻ theo những cách thức khác nhau, trải qua các triều đại khác nhau. Hán Nho khác Đường Nho, Tống Nho, Minh Nho... Tương tự, tư tưởng Nho giáo trải qua các triều Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn tại Việt Nam cũng không đồng nhất. Có một Khổng Tử của đời thật, nhưng có nhiều Khổng Tử của các chính thể lợi dụng. Tư tưởng của Khổng có nhiều điều hay, cũng có nhiều hạn chế. Nhưng trước khi hiểu rõ con người, tư tưởng Khổng thì đừng vì phản đối HVKT mà vội quy chụp tư tưởng đó là thứ “bốc mùi”, gọi Khổng Tử là “thằng Confucius”!

Chính quyền Trung Quốc tiến hành cách mạng văn hóa vào những năm 1966. Trong thời kỳ này, tư tưởng Khổng bị lên án gay gắt. Tượng Khổng trong Khổng Miếu Sơn Đông bị dán lên dòng chữ THẰNG KHỐN NẠN HÀNG ĐẦU, rồi bị kéo đổ, đập nát. Hồng vệ binh định đào mả Khổng, nhưng nhanh chóng bị can ngăn. Và giờ đây, khi nền chính trị, tư tưởng của Trung Cộng không đủ sức hút đối với thế giới, càng không phải giá trị phổ quát. Họ bám víu và giương chiêu bài quảng bá văn hóa; họ dùng Khổng Tử làm công cụ chính trị. Bởi vậy đừng nghĩ đơn giản rằng, HVKT là nơi truyền bá đạo Khổng. Trung Cộng không có tư cách đó.

2. Văn hóa Trung Hoa và chính quyền Trung Quốc

Không thể phủ nhận sức ảnh hưởng lan tỏa của văn hóa Trung Hoa trong quá khứ đối với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tạm không bàn đến bản quyền của các thành tố văn hóa tương đồng giữa Trung – Hàn – Việt. Bằng vào những tư liệu hiện có, có thể thấy các chính thể quân chủ Việt Nam đã từng chủ động sử dụng Hán văn làm ngôn ngữ hành chính, thi cử, sáng tác văn học, từng châm chước chế độ lễ nghi, áo mũ, phong tục của các triều đại Trung Hoa; từng tự phụ là ‘cõi văn hiến không kém Trung Quốc’; và khi Trung Quốc bị cai trị bởi những tộc người Mãn, Mông, lại tự nhận là quốc gia gìn giữ văn minh Hoa Hạ chính thống. Bất kỳ thứ văn hóa ngoại lai nào khi được du nhập vào dị vực đều bị bản địa hóa, bởi vậy khi văn hóa Hán đã hòa vào văn hóa Việt, trở thành một phần của văn hóa Việt thì đừng vì ghét Trung Cộng mà quay lại cầm dao tự xẻo thịt mình!

Sau Cách mạng văn hóa, văn hóa Trung Quốc đã xuống dốc. Trí thức Trung Quốc đương đại lưu truyền câu nói “sau Tống không còn Trung Quốc, sau Minh không còn Hoa Hạ, sau Mãn không còn Hán tộc, sau Cách mạng văn hóa không còn đạo đức”. Và trong mắt tôi, văn hóa Trung Quốc đương đại là một sản phẩm què quặt. Bởi vậy, hãy nhìn nhận cho rõ thứ văn hóa Trung Cộng quảng bá là văn hóa gì, tư tưởng gì, đừng tóm tất cả mọi thứ vào một khái niệm đơn nhất là ‘văn hóa Tàu’!

3. Tiếng phổ thông Trung Quốc và ngữ văn Hán Nôm

Hiển nhiên, nội dung quảng bá của HVKT là tiếng phổ thông Trung Quốc, tức thứ ngôn ngữ sống, lấy ngữ âm phương Bắc làm chuẩn, sử dụng bộ văn tự đã được giản lược sau năm 1949. Còn ngữ văn Hán Nôm là một thứ ngôn ngữ chết (tử ngữ), được người Việt Nam sử dụng để ghi chép, thi cử, v.v. trước thế kỷ 20.

Chữ Hán được sử dụng tại Việt Nam ngót 2000 năm. Trong quá trình du nhập, truyền bá, cho đến ngày hôm nay, người Việt có một hệ thống cách đọc chữ Hán riêng biệt (thiên địa, nhật nguyệt, v.v. thay vì /tian di/, /ri yue/). Nhiều chữ Hán được người Việt viết theo lối riêng, có những kết cấu, hình thể riêng, tương tự như trường hợp chữ Hán của Nhật Bản. Vào khoảng thời Lý Trần, người Việt mượn cách đọc của chữ Hán để ghi âm tiếng Việt, tạo ra một hệ thống chữ mới gọi là chữ Nôm. Về ngữ pháp, người Việt cũng như người Trung, Hàn, Nhật trước đây sử dụng ngữ pháp Hán văn cổ đại (một thứ tử ngữ) để ghi chép, sáng tác văn học. Văn tự Hán Nôm được diên dụng ở miền Bắc đến năm 1956 trước khi Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành cải cách giáo dục, và tại miền Nam đến năm 1975 trước khi Việt Nam cộng hòa diệt quốc.

Học tiếng Trung hiện đại chắc chắn không thể đọc hiểu hoành phi, câu đối, sách vở do người Việt trước thời Nguyễn viết. Còn trong bối cảnh hiện đại, nếu học một lượng chữ Hán Nôm cơ bản, có thể hiểu sâu hơn về tiếng Việt. Bởi vậy, khi phản đối HVKT thì đừng bài xích văn tự Hán Nôm, đừng coi nó là thứ chữ lạ, và đừng nâng cao quan điểm rằng, một ngàn năm Bắc thuộc mới sắp bắt đầu, Việt Nam sẽ quay trở lại dùng chữ Hán. Cần phải hiểu rõ, chữ Hán là chữ Hán nào. Hán của người Việt hay Hán của Trung Cộng.

Việc thoát Trung là thoát ở sự lệ thuộc chính trị, kinh tế, ở những thứ văn hóa thô bỉ, quê mùa tập nhiễm từ Trung Quốc đương đại, chứ không phải tẩy chay bất kỳ nét văn hóa hay đẹp nào chỉ cần biết nó có nguồn gốc Tàu!

clip_image002

Chú thích ảnh (từ trên xuống dưới, trái qua phải):

1. Hình tượng Khổng Tử của Trung Quốc thời Minh.

2. Hình tượng Khổng Tử của Việt Nam thời Lê.

3. Hình tượng Khổng Tử của Hàn Quốc thời Joseon.

4. Hình tượng Khổng Tử của Nhật Bản thời Edo.

5. Hình tượng Khổng Tử của Việt Nam cộng hòa đặt tại Miếu Khổng Thánh (chụp năm 1969), nay là đền Hùng trong Thảo cầm viên, Sài gòn. Pho tượng đã bị di dời.

6. Tượng Khổng Tử tại Khổng Miếu Sơn Đông bị dán lên dòng chữ Thằng khốn nạn hàng đầu, trong thời Cách mạng Văn hóa (1966 - 1976).

7. Tượng Khổng Tử đặt tại Thiên An môn năm 2011, bị di dời chỉ sau 100 ngày.

8. Biếm họa chân dung Khổng Tử sau khi bị chính quyền Trung Cộng lợi dụng để dựng lên Học viện Khổng Tử.

Nguồn: FB Trần Quang Đức

Phụ lục: Biển hiệu của Viện Khổng Tử vi phạm Nghị định của Chính phủ

Ngày 27/12, Trường Đại học Hà Nội đã tổ chức lễ gắn biển “Viện Khổng Tử” tại Trường với sự tham gia của các đại biểu cấp cao Việt Nam và Trung Quốc…

Tham gia lễ gắn biển, về phía Việt Nam có ông Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; ông Trần Đắc Lợi, Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương và ông Nguyễn Đình Luận, Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội.

Về phía Trung Quốc có ông Du Chính Thanh, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (Chính hiệp); ông Vương Gia Thụy, Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Trưởng ban Đối ngoại Đảng Cộng sản Trung Quốc; ông Lương Hồng, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Quảng Tây…

clip_image003

PGS, TSKH Nguyễn Đình Luận, Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội nêu rõ: Lễ gắn biển “Viện Khổng Tử” tại Trường Đại học Hà Nội là sự kiện quan trọng trong quá trình phát triển của nhà trường.

Nhưng tấm biển đó đã vi phạm Điều 23 Nghị định 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ (ban hành ngày 6/11/2009) quy định: Biển hiệu phải viết bằng chữ Việt Nam; trường hợp muốn thể hiện tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế, tên, chữ nước ngoài phải ghi ở phía dưới, kích thước nhỏ hơn chữ Việt Nam.

Theo Điều 33 Nghị định số 75/2010/NĐ-CP của Chính phủ thì hành vi sau: – Thể hiện trên biển hiệu tên riêng, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài ở phía trên tên bằng chữ Việt Nam; Thể hiện trên biển hiệu tên gọi, tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế bằng chữ nước ngoài có kích thước lớn hơn tên bằng chữ Việt Nam sẽ bị phạt tiền từ 3 đến 5 triệu đồng và buộc phải tháo dỡ biển hiệu.

Theo Nghị định 103 của Chính phủ thì biển hiệu này vi phạm cả hai: Đặt chữ Trung Quốc lên trên và to hơn chữ Việt. Đại học Hà Nội sao lại ít chữ vậy? Đề nghị Thanh tra Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch vào cuộc.

(Nghị định được trích từ trang Thư viện pháp luật)

Trường Nhân

Nguồn: http://nguoicaotuoi.org.vn/ban-doc/bien-hieu-cua-vien-khong-tu-vi-pham-nghi-dinh-cua-chinh-phu.html