Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

Những nước bình thường: phương Đông 25 năm hậu cộng sản

Tháng 11 30, 2014

Andrei Shleifer và Daniel Traisman

Trần Ngọc Cư dịch

Hai mươi lăm năm sau khi Bức tường Bá Linh sụp đổ, một cảm thức nuối tiếc về cơ hội đã bỏ lỡ đang trùm lên các nước một thời nằm ở phía Đông đường ranh này. Trở lại thời điểm đó, hi vọng của dân chúng tại đây đã dâng cao trong không khí hồ hởi đón mừng sự sụp đổ đột ngột của chủ nghĩa cộng sản. Từ Bratislava đến Ulaanbaatar, cơ hồ thể chế dân chủ và sự thịnh vượng kinh tế đã đến đợi ở góc đường.

Ngày nay, tâm trạng người dân tại những nước này trở nên u ám hơn. Với một vài trường hợp ngoại lệ, như Estonia và Ba Lan, những nước hậu cộng sản còn lại bị coi là những trường hợp thất bại – kinh tế bị oằn xuống dưới sức nặng của tầng lớp hưởng hưu bổng đang sống chật vật và giới đầu sỏ chính trị đang sống xa hoa, còn chính trị thì bị hoen ố bởi các trò gian lận ở thùng phiếu và sự xuất hiện những lãnh đạo độc tài. Từ Yugoslavia cũ đến Chechnya và bây giờ đến miền Đông Ukraine, các cuộc chiến đã làm gián đoạn sự liên tục của thời gian hơn 40 năm hòa bình lạnh [cold peace] trên lục địa châu Âu, để lại nhiều vùng lõm âm ỉ bạo động. Đối với nhiều quan sát viên thời sự, chế độ kìm kẹp độc tài và tham vọng địa chính trị hiếu chiến của Tổng thống Nga Vladimir Putin tiêu biểu cho một tình trạng suy thoái dân chủ tổng quát hơn lan ra từ phía Đông. “Điều tồi tệ nhất của chủ nghĩa cộng sản là những gì diễn ra sau nó,” Tổng Biên tập của một nhật báo Ba Lan và trước đây là một nhà bất đồng chính kiến chống cộng, ông Adam Michnik, mỉa mai.

Ngày kỷ niệm là một dịp tốt để chiêm nghiệm lịch sử và chẩn đoán tương lại. Nhiều thay đổi đã diễn ra từ khi các nước hậu cộng sản – gồm 15 quốc gia kế thừa Liên Xô, 14 nước cộng sản cũ của Đông Âu , và cựu chư hầu Xô-viết Mông Cổ – đã thoát khỏi các chế độ Mác-xít tàn bạo cách đây một thế hệ. Không phải mọi thay đổi đều phải trở thành một cái gì tốt đẹp hơn. Nhưng nếu coi những cải tổ hậu cộng sản là thất bại, thì đó lại là một sai lầm, và sai lầm này có nhiều ý nghĩa vượt ra ngoài khu vực. Một số nhà nghiên cứu, choáng ngợp trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và bị sốc do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, gần đây đã coi chủ nghĩa tư bản nhà nước độc tài là một phương án sinh động thay thế cho sự rối loạn chức năng của thể chế dân chủ tự do. Quan niệm sai lầm cho rằng nỗ lực cải tổ thị trường đã thất bại tại Đông Âu đã tăng cường cái ảo giác này.

Sự thật là lối tường thuật u ám đang thịnh hành về thế giới hậu cộng sản phần lớn là sai lầm. Gạt qua một bên các hình ảnh thời sự hiện nay, chúng ta sẽ thấy cuộc sống đã được cải thiện ngoạn mục khắp khối Đông cũ. Từ thời kỳ quá độ đến nay, các nước hậu cộng sản đã phát triển kinh tế nhanh chóng; ngày nay, người dân trở nên giàu có hơn, có tuổi thọ cao hơn, và sống hạnh phúc hơn. Gần như trên mọi phương diện, những quốc gia này hiện nay hoàn toàn giống như bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới có cùng một mức độ phát triển kinh tế. Chúng đã trở thành những nước bình thường – và, trong nhiều cung cách, tốt đẹp hơn cả bình thường.

Mặc dù tính trung bình, chúng giống như các quốc gia đồng đẳng kinh tế, nhưng trên thực tế các quốc gia chuyển đổi thể chế này đã trở nên đa dạng hơn nhiều. Sau khi thoát ra khỏi mô hình do Moscow áp đặt, chúng chịu sức thu hút của những quốc gia láng giềng phi cộng sản gần nhất: các nước ở Trung Âu nghiêng về châu Âu hơn; các nước ở Trung Á nghiêng về châu Á hơn. Trong những năm sắp tới, con đường phát triển của chúng có khả năng cùng phản ánh sự ganh đua giữa hai lực tác động chính: tính năng động toàn cầu của hiện đại hóa và sức níu kéo của địa lý [khu vực].

CÁC QUỐC GIA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Để hiểu rõ các nước hậu cộng sản nói trên đã thay đổi ra sao ta hãy nhớ lại chúng đã xuất phát như thế nào. Về chính trị, chúng đều là những quốc gia độc tài được cai trị bởi một đảng cầm quyền. Mỗi nước đều có cán bộ tuyên giáo để dạy bảo người dân phải nghĩ gì, có mật vụ để phát hiện bất đồng chính kiến, và có trại tù để giam giữ những người chỉ trích chế độ. Tất cả đều bày ra các cuộc tuyển cử khôi hài trong đó đảng chiếm hơn 95 phần trăm phiếu bầu. Trừ Yugoslavia và Albania sau năm1960, các nước khác đều nhận lệnh từ Moscow, một trung tâm quyền lực đã đưa xe tăng vào Hungary năm 1956 và Tiệp Khắc năm 1968 để đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng.

Tất cả các nước trong khối cộng sản vào thời đó có nền kinh tế do trung ương kiểm soát. Hầu hết hoặc tất cả tài sản đều thuộc về nhà nước, và giá cả được các nhà làm kế hoạch kinh tế đặt ra, chứ không do thị trường định đoạt. Công nghiệp nặng chiếm ưu thế trong khi khu vực dịch vụ thì èo uột. Tại Liên Xô, chi phí quốc phòng đã ngốn tới 25 phần trăm GDP vào cuối những năm 1980, so với  dưới 6 phần trăm tại Mỹ. Vào năm 1986, các nhà máy của Liên Xô đã sản xuất một kho vũ khí gồm 45.000 đầu đạn hạt nhân.

Làm thoả mãn người tiêu thụ không phải là một ưu tiên. Để mua được một căn hộ vào những năm 1980, người nạp đơn ở Bulgaria phải đợi đến 20 năm, và tại Ba Lan phải đợi đến 30 năm; một phần tư số người trong danh sách chờ tại Liên Xô là người đã nghỉ hưu. Người mua xe hơi tại Đông Đức phải đặt hàng trước 15 năm. Tại Romania, nhà độc tài Nicolae Ceausescu buộc mọi người phải theo một chế độ ăn uống thiếu calorie vào đầu những năm 1980 để dành tiền trả nợ nước ngoài. Ông qui định mỗi phòng chỉ được thắp sáng bằng một bóng đèn 40 watt, sưởi ấm các công sở chỉ đến 14 độ C là tối đa, và thời gian phát sóng truyền hình mỗi ngày là hai giờ với các chương trình tẻ nhạt.

Các nước cộng sản có thể rêu rao một số thành tích. Với chỉ 8 phần trăm dân số thế giới, Liên Xô và các nước Đông Âu đã giành được 48 phần trăm huy chương tại Thế vận hội Seoul năm 1988 và có đến 53 trong số 100 tay cờ tướng hàng đầu năm đó. Tỉ lệ người có học và biết chữ là cao.

Tuy nhiên, vào những năm suy tàn của chủ nghĩa cộng sản, ít ai chịu đứng ra bênh vực nó. Theo Vaclav Havel, nhà bất đồng chính kiến về sau trở thành Tổng thống Cộng hòa Séc, hệ thống đó là một “cỗ máy đồ sộ quái đản, inh ỏi và tanh hôi.” Nhiều năm sau khi rời bỏ quyền hành, Mikhail Gorbachev, chủ tịch cuối cùng của Liên Xô đã mô tả đặc tính của nền kinh tế mà có thời ông giám sát là “ngốn ngấu” và “phung phí tài nguyên.”

Cuối cùng, toàn bộ hệ thống Xô-viết thình lình sụp đổ. Các lãnh đạo mới được dân bầu ra khắp khối cộng sản cũ phải đối diện với nền kinh tế nước mình trong cơn khủng hoảng. Năm 1989, lạm phát tăng vọt 640 phần trăm tại Ba Lan và 2.700 phần trăm tại Nam Tư. Khoảng thời gian trước 1991, thời điểm Liên Xô tan rã, sản lượng của nước này giảm 15 phần trăm một năm.

Các chính phủ hậu cộng sản đồng loạt thực thi các chương trình cải tổ – được thiết kế để giảm bớt việc kiểm soát giá cả, thúc đẩy mậu dịch, quân bình ngân sách, tư hữu hóa các xí nghiệp nhà nước, và thiết lập các chương trình phúc lợi xã hội – mặc dù một số nước có thể theo đuổi các chương trình này nhanh hơn và mạnh hơn các nước khác. Những cải tổ này đã thay hình đổi dạng nền kinh tế của họ. Nói chung, nhờ từ bỏ đường lối hoạch định kinh tế trung ương, các nước hậu cộng sản có điều kiện phát triển kinh tế thị trường hơn phần còn lại của thế giới. Khoảng năm 2011, các nước này đạt một chỉ số tự do kinh tế trung bình là 7,0, một chỉ số do Viện Fraser, một nhóm nghiên cứu tại Canada đúc kết, so với chỉ số trung bình toàn cầu là 6,8. Nước được cải tổ nhiều nhất trong khối,Estonia, có chỉ số tự do kinh tế nằm giữa Đan Mạch và Hoa Kỳ.

Hầu như khắp mọi nơi, các con khủng long công nghiệp nhà nước phải nhường bước cho các công ty tư nhân là những công ty bắt đầu sản xuất phần lớn tổng sản phẩm nội địa (GDP). Sản lượng trung bình của khu vực tư tại các nước hậu cộng sản hiện nay chiếm khoảng 70 phần trăm. Công nghiệp nặng được giảm thiểu, và trung bình, khu vực dịch vụ tăng từ 36 phần trăm đến 58 phần trăm sản lượng quốc gia trong thời gian từ 1990 đến 2012. Không có một khu vực nào trên thế giới mà mậu dịch quốc tế phát triển nhanh như thế, với kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu cùng tăng vọt từ 75 phần trăm đến 114 phần trăm GDP. Sau nhiều thập niên chủ yếu trao đổi mậu dịch với nhau trong cùng một khối, các quốc gia hậu cộng sản đã nhanh chóng tái định hướng kinh tế để nhắm tới các thị trường nước ngoài tại châu Âu và những khu vực khác. Tính đến năm 2012, giá trị hàng xuất khẩu từ các nước Đông Âu cũ sang EU tăng trung bình 69 phần trăm và từ các nước cộng hòa Xô-viết cũ 47 phần trăm.

Tóm lại, những nước này đã chuyển đổi hệ thống kinh tế do nhà nước quản lý, được quân sự hóa và công nghiệp hóa cao độ thành một nền kinh tế thị trường hướng về dịch vụ, đặt cơ sở trên sở hữu tư nhân và hội nhập vào mạng lưới thương mại toàn cầu. Không còn bị bóp méo theo đường lối Mác-xít, các định chế kinh tế, chính sách mậu dịch, và các môi trường điều tiết tại những nước này ngày nay giống hệt các nước khác có cùng một mức lợi tức quốc gia.

Bất chấp những thay đổi này, các quan sát viên thường qui trách nhiệm cho các cải tổ thời hậu cộng sản về thành tích kinh tế tồi tệ tại các quốc gia đang trải qua thời kỳ quá độ. Hai cáo buộc thông thường cho rằng trên cơ bản các cải tổ này đã được quan niệm một cách sai lầm và rằng chúng đã được thi hành một cách quá triệt để [too radical]. Việc chỉ trích này nêu lên hai câu hỏi: một là, liệu thành tích kinh tế của các quốc gia này có thực sự tồi tệ hay không, và hai là, liệu các chiến lược triệt để hơn có mang lại kết quả tồi tệ hơn so với các đường lối cải tổ tuần tự hơn hay không. Câu trả lời vắn tắt cho cả hai câu hỏi là không.

HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐI LÊN

Một khởi điểm hợp lý trong việc đánh giá thành tích kinh tế của một nước là lợi tức quốc gia của nó, nhưng bất cứ một sự so sánh nào dùng số liệu của thời Xô-viết cũng cần phải được xét đến bằng một thái độ hoài nghi. Vì nhiều lý do khác nhau, phần lớn sản lượng mà các kế toán viên của thời cộng sản ghi lại trong sổ sách thường không có giá trị như con số mà họ rêu rao. Các nhà máy báo cáo láo sản lượng của mình để lãnh tiền thưởng, do đó thổi phồng các số liệu GDP lên đến 5 phần trăm. Nhiều hàng hóa do các nhà máy này sản xuất có phẩm chất tồi tệ đến nỗi người tiêu thụ không chịu mua. Chính phủ phát động nhiều dự án đồ sộ nhưng không bao giờ được hoàn thành (mà vẫn được tính vào chi phí đầu tư, làm gia tăng các giá trị GDP) và duy trì các chi phí quốc phòng to lớn với trị giá rất đáng hoài nghi. Rốt cuộc, chỉ một phần rất nhỏ trong lợi tức chính thức của quốc gia lọt vào túi của người dân mà thôi. Vào năm 1990, chẳng hạn, lượng tiền dùng để tiêu thụ trong các hộ gia đình tại hầu hết những nước phi cộng sản [noncommunist countries] chiếm đến 60 phần trăm GDP. Nhưng tại Nga, con số này chiếm chưa được một phần ba GDP, và tại Azerbaijan, con số này rơi xuống dưới một phần tư.

Phần lớn sự suy thoái kinh tế được ghi nhận trong những năm đầu của thời kỳ quá độ hậu cộng sản – theo một vài ước tính, có thể giảm đến một nửa – đã phản ánh việc cắt bỏ sản lượng hư cấu hay các đầu tư vô bổ của thời cộng sản. Nhưng thậm chí nếu những con số chính thức này được thừa nhận theo giá trị bề mặt của chúng, bức tranh mà chúng cho thấy vẫn sáng sủa hơn người ta thường lầm tưởng. Bất chấp nền kinh tế bị suy giảm lúc đầu, trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2011, một nước hậu cộng sản có mức tăng trưởng trung bình (Uzbekistan) cũng tăng trưởng nhanh hơn một chút so với một nước có mức tăng trưởng trung bình ở một nơi khác trên thế giới (Norway). Trong khi GDP đầu người của Norway tăng lên 45 phần trăm trong thời gian nói trên, Uzbekistan tăng được 47 phần trăm. Bosnia, nơi lợi tức quốc gia tăng hơn 450 phần trăm, đã đạt tỉ lệ tăng trưởng ở vị trí thứ ba trên thế giới trong giai đoạn vừa nói. Albania đứng ở vị thứ 16, tăng trưởng 134 phần trăm, và Ba Lan vị thứ 20, tăng trưởng 119 phần trăm. Ba nước hậu cộng sản này còn qua mặt cả những cỗ máy có truyền thống tăng trưởng như Hồng Kông và Singapore.

Sự gia tăng về mức tiêu thụ cũng ngoạn mục không kém. Từ năm 1990 đến năm 2011, mức tiêu thụ trong các hộ gia đình tính theo đầu người tại các nước hậu cộng sản đã tăng trung bình 88 phần trăm, so với mức tăng trung bình 56 phần trăm tại các nơi khác trên thế giới. Tại Ba Lan, mức tiêu thụ hộ gia đình đã tăng 146 phần trăm, ngang với tỉ lệ của Hàn Quốc. Tại Nga, mức tiêu thụ đã tăng 100 phần trăm.

Người dân bình thường đã trông thấy mức sống của mình được cải thiện đáng kể. Số người sở hữu xe hơi, một thước đo đáng tin cậy về lợi tức có thể đem ra tiêu xài, đã gia tăng sau khi chế độ cộng sản sụp đổ mặc dù GDP có sa sút trong những năm đầu của thời kỳ quá độ. Trong thời gian từ 1993 đến 2011, con số trung bình của xe hơi chở người [passenger cars] đã tăng từ một chiếc cho 10 đầu người đến một chiếc cho 4 đầu người. Hiện nay số xe hơi tính theo đầu người tại Lithunia, Ba Lan, và Lithuania còn cao hơn cả Anh.

Trong công nghệ thông tin, Đông Âu cũng vươn lên phía trước, đi từ lạc hậu đến tiến bộ vượt bậc. Vào năm 2013, tỉ lệ số điện thoại di động được sử dụng cho mỗi đầu người là 1,24 [cứ 100 người thì có đến 124 chiếc điện thoại], một con số vượt cả phương Tây. Thế giới hậu cộng sản ngày nay có một tỉ lệ cư dân mạng là 54 phần trăm dân số trong một nước trung bình – cao hơn bất cứ khu vực nào trên thế giới ngoại trừ Bắc Mỹ và Tây Âu.

Công dân của các quốc gia hậu cộng sản cũng đi du lịch nhiều hơn bao giờ; họ thực hiện 170 triệu chuyến du lịch nước ngoài năm 2012. Và ở trong nước, họ sống trong những hộ chung cư rộng rãi hơn: từ năm 1991, không gian sống tính theo đầu người đã tăng lên 99 phần trăm tại Cộng hòa Séc, 85 phần trăm tại Armenia, và 39 phần trăm tại Nga. Nhờ các chương trình tư hữu hóa nhà ở cho đại chúng, tỉ lệ sở hữu nhà ở tại một vài nơi đã vượt đến mức cao nhất thế giới. Dân chúng cũng ăn ngon hơn trước. Tại bảy trong số chín cộng hòa Xô-viết cũ có công bố các số liệu thống kê liên quan, việc tiêu thụ trái cây và rau đã tăng vọt. Vào năm 2011, chẳng hạn, dân Ukraine ăn 58 phần trăm nhiều rau hơn và 47 phần trăm nhiều trái cây hơn so với 20 năm về trước. Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Slovakia, và Slovenia trải qua một hiện tượng mà các nhà nghiên cứu y khoa đã mô tả vào năm 2008 trong Tạp chí Dịch tễ học châu Âu [the European Journal of Epidemiology] “gần như chắc chắn là một đợt giảm thiểu bệnh tim mạch nhanh nhất chưa từng thấy” sau khi người tiêu thụ bắt đầu thay thế dầu thực vật cho các loại mỡ động vật.

Về sự thăng tiến trong xã hội, các số liệu thống kê phủ nhận thành kiến cho rằng xã hội hậu cộng sản đang bị phân hóa giữa giới đại gia đầu sỏ và tầng lớp ăn mày. Tỷ số sinh viên ghi danh đại học, vốn đã cao, sau năm 1989 thậm chí còn gia tăng hơn nữa, ở mức trung bình 33 phần trăm trước năm 2012. Cũng trước năm 2012, tại những nước hậu cộng sản, tỉ lệ trung bình học sinh vừa xong trung học quyết định tiếp tục học thêm là cao hơn tỉ lệ tương ứng tại Thụy Sĩ. Mặc dầu tỉ lệ nghèo khổ và bất bình đẳng lợi tức thường tăng lên vào lúc đầu của thời kỳ quá độ, nhưng những tỉ lệ này tại các quốc gia hậu cộng sản hiện nay là thấp hơn các nền kinh tế khác có cùng mức lợi tức tương đương.

Các chính phủ cũng đang có thêm nhiều nỗ lực để đảm bảo cho người dân có thể hít thở không khí trong lành hơn. Chế độ cộng sản đã để lại một rừng ống khói nhà máy, nhưng từ 1990, cả 11 nước hậu cộng sản thành viên của EU đã cắt giảm hơn một nửa các lượng khí thải carbon monoxide, ốc-xít ni-tơ, ốc-xít lưu huỳnh. Thậm chí trong khi kinh tế đang tăng trưởng, 12 hai nước cộng hòa Xô-viết cũ đã cắt giảm các khí thải ô nhiễm thoát ra từ các nguồn cố định vào không khí, ở tỉ lệ trung bình 66 phần trăm trong thời gian từ 1991 đến 2012.

Và mặc dù thường có những bài báo nêu lên tỉ suất tử vong tăng vọt [soaring mortality] do căng thẳng của thời kỳ quá độ, các xu thế phát triển liên quan đến dân số của khu vực này là không đen tối. Tính trung bình, tuổi thọ tại các quốc gia hậu cộng sản đã tăng từ 69 tuổi vào năm 1990 đến 73 tuổi vào năm 2012. Thậm chí tại Nga, từ lâu đã bị mô tả là một vùng thảm họa dân số [demographic disaster zone], tuổi thọ trung bình cũng đứng ở mức ngoài 70 một chút – nghĩa là cao hơn bao giờ hết trong lịch sử Nga. Tỉ suất tử vong ở trẻ sơ sinh, vốn đã thấp, lại giảm nhanh hơn tại các các nước hậu cộng sản tính theo tỉ lệ phần trăm so với bất cứ khu vực nào trên thế giới trong thời gian từ 1990 đến 2010. Lượng rượu cồn tiêu thụ [của mỗi người] tính trung bình cũng nhích xuống từ 2,1 gallon [hay 7,95 lít] cồn tinh chất vào năm 1990 xuống 2,0 gallon [hay 7,57 lít] vào năm 2010. Có vài ngoại lệ: lượng rượu tiêu thụ đã tăng lên tại Nga và các quốc gia Baltic. Nhưng thậm chí lượng rưọu trung bình cho mỗi đầu người tại Nga vào năm 2010 là 2,9 gallon [hay gần 11 lit] vẫn còn thấp hơn ở Áo, Pháp, Đức, hay Ái Nhĩ Lan.

Mặc dù những tiến bộ như về mức sống, chẳng hạn, là quan trọng; nhưng chuyển đổi cơ bản nhất đã diễn ra tại các nước trong khối Đông cũ là chính trị. Người dân của hầu hết các quốc gia chuyển đổi chế độ hiện sống dưới những chính phủ tự do và cởi mở hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử của họ. Thậm chí khi đối chiếu với bối cảnh trong đó thể chế dân chủ đã trỗi dậy trên toàn cầu vào những thập niên gần đây, mức độ chuyển đổi chính trị trong khối Đông cũ vẫn là rất ngoạn mục.

Một vài số liệu có thể chứng minh điều này. Sử dụng thước đo phổ biến nhất về các chế độ chính trị, gọi là Chỉ số Chính thể [Polity index], do Trung tâm Nghiên cứu Hoà bình của các Thể chế [the Center for Systemic Peace], chúng tôi đặt các nước trên một thang điểm từ số không (thuần túy độc tài) đến 100 (thể chế dân chủ vững mạnh nhất). Vào năm 1988, các quốc gia khối Đông được xếp từ vị thứ 5 (Albania) đến 40 (Hungary), tính trung bình các nước trong khối này có điểm số 20, gần với điểm số của Ai Cập và Iran. Dựa vào trình độ phát triển kinh tế lúc bấy giờ, các nước cộng sản nổi bật lên như là những chế độ độc tài khác thường trên thế giới. Sau các cuộc cách mạng 1989-91, Chỉ số Chính thể trung bình của chúng đã tăng vọt, vươn tới điểm số 76 vào năm 2013. Ngày nay, một nước hậu cộng sản trung bình được hưởng tự do của một nước bình thường như người ta kỳ vọng, dựa vào mức lợi tức quốc gia của nó. Có đến 6 nước hậu cộng sản có Chỉ số Chính thể cao nhất, ngang hàng với Đức và Mỹ.

VƯƠN CAO HƠN NỮA

Các nước hậu cộng sản ngày nay còn lâu mới trở nên hoàn hảo. Nhưng hầu hết các khuyết điểm của chúng cũng là thuộc tính tiêu biểu cho các quốc gia có cùng một trình độ phát triển kinh tế. Trên nhiều mặt, các nước này còn đạt được những thành tích tốt đẹp hơn, vượt ra ngoài các dự đoán dựa vào lợi tức quốc gia. Và trong một số ít trường hợp tụt hậu, các nước này gần như luôn luôn đi đúng hướng.

Xin lấy nạn tham nhũng làm ví dụ. Khu vực này thường xuyên bị đánh giá rất thấp trên các chỉ số đo lường nạn tham nhũng mà người ta tin là có thật [perceived corruption]. Thành tích yếu kém này là không đáng ngạc nhiên vì những chỉ số đo lường nạn tham nhũng phần nào đã dựa vào các cuộc thăm dò các nhà doanh nghiệp quốc tế, là những người có khả năng bị lung lạc do cái hình ảnh bẩn thỉu của khu vực này được nêu lên trên các phương tiện truyền thông toàn cầu. Nhưng các chỉ số của nạn hối lộ được chính người dân của những nước hậu cộng sản này tường thuật trong các cuộc thăm dò không tiết lộ danh tánh lại vẽ ra một bức tranh khác hẳn. Những chỉ số này, mặc dù cao, vẫn là tiêu biểu cho các nước có một mức lợi tức tương đương. Các cuộc thăm dò do tổ chức giám sát Minh bạch Quốc tế [Transparency Internatonal] tiến hành từ năm 2010 đến năm 2013 cho thấy rằng số người thú nhận đã hối lộ quan chức tại một quốc gia hậu cộng sản trung bình (23 phần trăm) là ít hơn con số trung bình tại những nước khác (28 phần trăm).

Về xung đột vũ trang cũng thế, khu vực này không khác với những vùng có cùng mức độ phát triển tương đương. Mặc dù chiến tranh đã xảy ra tại Nam Tư cũ, Chechnya, và hiện nay tại Ukraine, các nước hậu cộng sản không khác với các quốc gia có cùng một mức độ phát triển, trong khả năng trải qua xung đột vũ trang  hay nội chiến trong 25 năm qua. Các quốc gia này cũng không cho thấy tỉ lệ tử vong cao hơn, cả trong chiến tranh hay bạo động lẫn qua số liệu tuyệt đối hoặc tính theo đầu người. Và mặc dù cuộc xung đột vũ trang tại Ukraine là quá mới để được tính vào những con số này, nhưng nó không có khả năng thay đổi kết quả thống kê, trừ phi chiến sự ở đó leo thang ra ngoài vòng kiểm soát.

Đằng sau những dữ liệu này, người ta còn chứng kiến tiến trình phi quân sự hóa nhanh chóng của toàn khu vực: so với chi phí quốc phòng của Liên Xô cũ có khi lên đến 25 phần trăm GDP, ngày nay không một quốc gia kế tục nào của nó, kể cả Nga, có ngân sách quốc phòng vượt quá 5 phần trăm GDP. Thậm chí khi liên minh của chúng tan rã, các quốc gia trong khốiWarsawcũ đã cho giải ngũ một triệu binh lính.

Nạn lạm phát và thất nghiệp cũng là hai vấn đề khác cần được bàn đến. Vào những năm 1990, hầu hết các nước hậu cộng sản đều kinh qua những gian khổ do vật giá leo thang và nạn thất nghiệp tăng vọt. Tuy nhiên, trước năm 2012, tình trạng lạm phát gần như đã được ổn định tại hầu hết những nước này; tỉ lệ lạm phát trung bình của các nền kinh tế hậu cộng sản trên thực tế đã rơi xuống dưới tỉ lệ lạm phát trung bình toàn cầu. Và mặc dù nạn thất nghiệp tại các nước chuyển đổi chế độ này vẫn còn cao hơn vài phần trăm so với các quốc gia có cùng trình độ kinh tế, nhưng tỉ lệ này vẫn tiếp tục đi xuống kể từ khi chạm đỉnh khoảng năm 2000.

Những năm gần đây còn chứng kiến những cải thiện trong một lãnh vực khác mà các nước hậu cộng sản đã từng tụt hậu so với phần còn lại của thế giới: đấy là hạnh phúc của người dân. Theo đợt thăm dò mới nhất của tổ chức Nghiên cứu các Giá trị Thế giới [the World Values Survey], được tiến hành trong những năm 2010-14, các nước trong khối Đông cũ cũng sắp bắt kịp thế giới về phương diện hạnh phúc. Tính trung bình, 81 phần trăm dân chúng được hỏi ý kiến tại các nước hậu cộng sản cho biết rằng họ hoặc là “rất” hoặc là “hoàn toàn” hạnh phúc, so với 84 phần trăm toàn thế giới. Với mức lợi tức hiện có, người dân tại những nước này không còn đặc biệt trầm cảm [particularly depressed] như trước – mặc dù họ vẫn bày tỏ nỗi bất bình khác thường [unusual dissatisfaction] với công việc, với chính phủ, cũng như với hệ thống giáo dục và y tế. Tỉ lệ tự sát, mặc dù vẫn còn tương đối cao, đã giảm bớt đáng kể từ khi chế độ cộng sản cáo chung.

CÁC QUI LUẬT VỀ SỰ THU HÚT GIỮA CÁC QUỐC GIA

Bài nghiên cứu các giá trị trung bình này làm lu mờ sự khác biệt to lớn diễn ra từ khi tính đồng phục [uniformity] do Moscow áp đặt lên chư hầu của mình cáo chung. Ngày nay, sự tương phản giữa các quốc gia hậu cộng sản đa dạng này là rất rõ nét. Ba Lan đã trở thành một nước dân chủ thị trường tự do có lợi tức quốc gia tăng lên hơn hai lần kể từ năm 1990; Tajikistan vẫn là một nước độc tài, trên mình còn mang thương tích chiến tranh và cực kỳ nghèo khổ, do một nhà lãnh đạo duy nhất đứng đầu suốt hơn 20 năm.

Một lý giải được lặp đi lặp lại nhiều lần về sự cách biệt giữa các thành quả kinh tế là, tại một số nước các quan chức chính phủ đã phá hoại hiệu quả bằng cách theo đuổi các cải tổ quá táo bạo. Theo luận cứ này, một đường lối chậm rãi hơn, có bài bản hơn đã giúp một số nước khác thực hiện các cuộc chuyển đổi thành công hơn. “Các chính sách theo đường lối tuần tự [gradualist policies] sẽ ít gây thiệt hại trong ngắn hạn, nhưng sẽ dẫn đến ổn định kinh tế và xã hội rộng lớn hơn, và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh hơn trong dài hạn,” nhà kinh tế Joseph Stiglitz đã lập luận trong cuốn sách ông xuất bản năm 2002, Globalization and Its Discontents [Toàn cầu hóa và những nỗi bất bình]. “Trong cuộc chạy đua giữa con rùa và con thỏ, hình như con rùa lại thắng cuộc một lần nữa.” Lý giải này đã thu hút những người trong khối Xô-viết cũ khi họ nhận thấy các đặc quyền của mình bị tiến trình tự do hoá đe dọa và những người ở phương Tây mất lòng tin vào các thế lực kinh tế thị trường. Nhưng lý luận như vậy là sai lầm: khoảng giữa thập niên 1990, các nước theo đuổi cải tổ một cách nhiệt tình đã thành công vượt bậc so với những nước trì hoãn cải tổ.

Chỉ nhìn sơ vào các dữ liệu cũng đủ cho ta hậu thuẫn kết luận này. Để đo lường tiến độ của sự cải tổ, chúng tôi dựa vào các chỉ số được Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu đưa ra, điều chỉnh chúng để định cho mỗi nước một số điểm hàng năm từ 0 đến 100, tùy theo mức độ mà nước đó tiến gần đến kinh tế thị trường tự do. Chúng tôi gọi những nước vượt lên trên 40 điểm trong ba năm đầu của thời kỳ quá độ là “những nước cải tổ triệt để [radical reformers].” Chín quốc gia hội đủ tiêu chuẩn này: Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Estonia, Ba Lan, Nga, và Slovakia. Chúng tôi gọi những nước có điểm từ 25 đến 40 là những nước “cải tổ tuần tự [gradual reformers],” và những nước chưa vươn tới 25 điểm là “những nước cải tổ chậm [slow reformers].”

Việc so sánh thành tích kinh tế của ba nhóm nước này cho thấy rằng những cải tổ nhanh chóng hơn và triệt để hơn sẽ giảm thiểu, chứ không tăng thêm khó khăn kinh tế. Công bằng mà nói, khi bắt đầu quá trình chuyển đổi, các nước thuộc nhóm cải tổ triệt để đã chứng kiến sự suy giảm sản lượng trầm trọng hơn một chút so với các nước thuộc nhóm cải tổ tuần tự. Nhưng sau ba năm, những nước cải tổ triệt để đã xốc tới phía trước, vượt xa các nước cải tổ tuần tự. Trong khi đó, những nước cải tổ chậm gặp nhiều khó khăn nhất và ngày nay tiếp tục tụt hậu so với hai nhóm kia.

Cuối cùng những nước cải tổ tuần tự đã bắt kịp những nước cải tổ triệt để, nhưng việc này chỉ xảy ra sau nhiều năm chịu thiệt thòi vì phải trả giá đắt cho hiệu quả thấp [underperformance]. So với những nước hăng hái đi theo thị trường tự do, những nước cải tổ tuần tự mất nhiều thời gian hơn để lấy lại mức tiêu thụ hộ gia đình đã có trước đó và để ổn định giá cả lạm phát. Và trong mức độ người ta có thể phán đoán, dựa vào các dữ liệu thống kê hiện có, nạn thất nghiệp đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến những nước chậm cải tổ như Armenia và Madedonia, nghiêm trọng hơn các nước khác cùng kinh qua thời kỳ quá độ. Nhìn chung, không có bằng chứng nào cho thấy đường lối cải tổ tuần tự có thể giảm bớt sự nhức nhối của quá trình chuyển đổi. Tất cả mọi dấu hiệu đều chỉ theo chiều ngược lại: chính những con thỏ, chứ không phải những con rùa, đã thắng cuộc đua.  Nhiều con rùa cuối cùng cũng theo kịp, nhưng chỉ sau khi lặn lội một hành trình gian khổ hơn.

Ngoài sự khác biệt vì cải tổ nhanh hay chậm, một mô hình nổi bật khác phát sinh từ vị trí địa lý của một quốc gia ở trong khu vực. Những tiên đoán trước đây, rằng tất cả các nước đang chuyển đổi rồi sẽ giống các quốc gia phương Tây, đã không trở thành hiện thực. Quá trình hội tụ quả thật đã diễn ra, nhưng ở hướng khác: giữa các nước hậu cộng sản và các lân bang phi cộng sản. Trên nhiều phương diện, các quốc gia hậu cộng sản đã trở nên tương tự với những nước phi cộng sản gần biên giới của chúng nhất.

Những quốc gia Baltic xích gần với Phần Lan hơn, những nước trong vùng Caucasus xích gần với Iran và Thổ Nhĩ Kỳ hơn. Những quốc gia Trung Á trở nên gần giống với Afghanistan và Iran hơn. Những nước Trung Âu thì xích gần với Áo và Đức hơn, nhưng thỉnh thoảng vẫn được các nước láng giềng ở phía Đông níu kéo. Có vài ngoại lệ đối với mô hình này – đáng lưu ý nhất là Belarus, một nước đã trở nên độc tài hơn so với những nước hậu cộng sản láng giềng. Nhưng trong hầu hết mọi trường hợp, sau khi thoát khỏi gọng kềm của Moscow, các chư hầu Xô-viết cũ đã nhanh chóng bung ra, hội nhập vào môi trường khu vực của mình.

Các đặc tính của những nước láng giềng không cộng sản gần gũi nhất của mỗi quốc gia vào thời điểm 1990 có thể gợi ý mạnh mẽ về đường hướng phát triển sau này của quốc gia đó. Nếu xét đến khởi điểm của từng nước, chúng ta sẽ thấy rằng hễ các nước láng giềng phi cộng sản càng giàu có, càng dân chủ và càng tự do về mặt kinh tế, thì cuối cùng nước hậu cộng sản đó sẽ trở nên giàu có, dân chủ và tự do về mặt kinh tế hơn trước. Sự hội tụ này còn biểu hiện trong nhiều cung cách tế nhị hơn nữa – chẳng hạn, trong tỉ lệ sinh viên đăng ký vào đại học, trong mức tiêu thụ rượu cồn, và thậm chí trong tuổi thọ trung bình. Đôi khi, các nước láng giềng còn ảnh hưởng trực tiếp lên viễn ảnh phát triển của những nước hậu cộng sản này, như trường hợp quân chiến đấu Hồi giáo từ bên kia biên giới Afghanistan tấn công vào Tajikistan hay khi các công ty Đức thành lập các nhà máy sản xuất tại Cộng hòa Séc. Nhưng một động lực quan trọng hơn thúc đẩy tính đồng qui này chắc hẳn là những đặc tính văn hóa cơ bản đã có trước chế độ cộng sản và các biên giới quốc gia hiện nay.

NHỮNG KỲ VỌNG TO LỚN

Mười năm về trước, chúng tôi đã lập luận trong tạp chí này rằng Nga đã trở thành “một quốc gia bình thường,” với các khuyết tật chính trị và kinh tế tương tự khuyết tật của những quốc gia cùng trình độ phát triển. Chúng tôi dự đoán rằng tăng trưởng kinh tế của Nga sẽ tiếp diễn, đồng thời hiện đại hóa xã hội theo bước phát triển đó. Tiên đoán này đã trở thành hiện thực: GDP tính theo đầu người của Nga đã tăng thêm 39 phần trăm kể từ năm 2004, và sự thâm nhập Internet tại Nga đã tăng lên 4 lần, qua mặt Hy Lạp.

Quay sang chính trị, chúng tôi phác họa hai kịch bản có thể xảy ra. Kịch bản thứ nhất nêu lên “sự cạnh tranh ngày một gia tăng giữa các đảng phái dân chủ và sự xuất hiện của một xã hội dân sự ngày một vững mạnh hơn.” Kịch bản thứ hai tiên đoán một “sự tuột dốc hướng tới một chế độ độc tài được quản lý bởi các cán bộ nhà nghề trong ngành công an dưới chiêu bài của các thủ tục dân chủ hình thức.” Tiên đoán của chúng tôi cho rằng Nga sẽ vạch ra một con đường nằm giữa hai thái cực này – một tiên đoán hóa ra là quá lạc quan, xa vời thực tế. Cuối cùng, Tổng thống Nga đã chọn phương án thứ hai.

Việc Putin chọn con đường độc tài rõ ràng làm cho Nga trở thành nguy hiểm hơn. Tuy nhiên, cho đến nay, việc này vẫn chưa làm cho Nga trở nên bất bình thường về mặt chính trị. Thật vậy, trên một biểu đồ đối chiếu chỉ số Chính thể [Polity scores] của nhiều quốc gia khác nhau với chính lợi tức của chúng, Nga vẫn chỉ chệch hướng một chút so với mô hình tổng quát. Đối với một nước có lợi tức quốc gia như Nga, chỉ số Chính thể dự kiến vào năm 2013 là 76 trên thang điểm 100. Chỉ số thực của Nga là 70, ngang hàng với Sri Lanka và Venezuela.

Nếu Nga thậm chí trở nên giàu có hơn nữa mà không chịu tự do hóa chính trị, nó mới thực sự trở thành bất bình thường. Chỉ có ba nhóm nước giàu hơn Nga hiện nay là các nước dân chủ phát triển, các nước độc tài dầu lửa (hầu hết nằm trong vùng Vịnh Ba Tư), và các quốc gia đô thị (city-states) như Singapore và Macao. Rõ ràng là Nga không thể trở thành một quốc gia đô thị, và nó không có đủ tài nguyên thiên nhiên để trở thành một nước độc tài kiểu Ả-rập. (Lợi tức từ dầu khí hàng năm của Nga là 3.000 USD mỗi đầu người, so với 34.000 USD đối với Kuwait.) Vì thế Nga hiển nhiên phải chọn giữa trải qua bế tắc kinh tế và theo đuổi phát triển kinh tế song song với dân chủ hóa mạnh mẽ hơn trước. Hiện nay, Điện Kremlin có vẻ quyết tâm đi theo lựa chọn thứ nhất, nhưng những lựa chọn của nó có thể thay đổi theo thời gian.

Tuy vậy, chủ nghĩa độc tài ngày càng gia tăng của Nga chắc chắn không làm cho thế giới sao lãng những tiến bộ ngoạn mục của khu vực hậu cộng sản này nói chung. Hai mươi lăm năm về trước, những nước thuộc về khối Đông tiêu biểu cho một trong hai nền văn minh loại trừ lẫn nhau trên thế giới [an alternative civilization]. Vào lúc đó mà tưởng tượng chúng nhanh chóng hòa nhập vào dòng chính toàn cầu [the global mainstream], phải cần đến một sự bạo gan nào đó. Thời kỳ quá độ đã gây ra không ít thất vọng. Nhưng nhìn chung, những thay đổi từ năm 1989 đến nay là một thành công nổi bật.

Đã đến lúc phải xét lại cái cảm thức sai lầm về giai đoạn này. Những cải tổ thị trường, những nỗ lực xây dựng dân chủ, những cuộc tranh đấu chống tham nhũng đã không thất bại, mặc dù chúng vẫn chưa hoàn tất. Luận điệu cho rằng một đường lối cải tổ kinh tế tuần tự sẽ có hiệu quả hơn và ít gây đau đớn hơn đã bị các bằng chứng dữ liệu bác bỏ. Thời kỳ quá độ hậu cộng sản không hề cho thấy sự bất cập của chủ nghĩa tư bản tự do hay sự rối loạn chức năng của thể chế dân chủ. Nói đúng hơn, nó chứng minh tính ưu việt và lời hứa hẹn trường tồn của cả hai.

______

ANDREI SHLEIFER là Giáo sư Kinh tế tại Đại học Harvard. DANIEL TREISMAN là Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Calfornia, Los Angeles, và là tác giả cuốn The Return: Russia’s Journey From Gorbachev to Medvedev [Trở về thế giới bình thường: Hành trình của Nga từ Gorbachev đến Medvedev.]

Hình: Baku, thủ đô Azerbaijan ngày nay

Dịch từ bản tiếng Anh: “Normal Countries. The East 25 Years After Communism”. Foreign Affairs số tháng Mười Một/Mười Hai 2014.

Nguồn: http://www.procontra.asia/?p=5895

Tìm hiểu và bảo vệ quyền con người là “vi phạm pháp luật”?

Trần Quang Thành

clip_image001

Vào hồi 19h ngày 27/11/2014, một nhóm sinh viên gồm Lý Quang Sơn, Lý Trí Thành, Dũng Xe Máy và Quyết Phạm đang chuẩn bị ăn cơm tối tại phòng 604 tòa nhà N06, phố Trần Đăng Ninh, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội, bỗng xuất hiện một toán người gồm Công an khu vực, Cảnh sát cơ động, An ninh mặc thường phục và Dân phòng xông vào nhà yêu cầu kiểm tra tạm trú tạm vắng. Trong khi ấy, ngoài hành lang còn có khoảng một chục người nữa bao vây. Bất chấp sự phản đối của chủ nhà, đám người tự nhận là công an này đã xông vào lục lọi các phòng mà không hề có lệnh khám xét hoăc bất kỳ thứ giấy tờ nào. Họ viện lý do có người viết đơn tố giác phòng 604 có chứa chấp tài liệu trái phép và chất gây cháy nổ. Sau một hồi khám xét, lực lượng An ninh đã thu giữ 30 chiếc áo in logo nhân quyền và các tài liệu về dân chủ và nhân quyền được xuất bản tại Việt Nam (ví dụ như cuốn “Dân chủ trực tiếp” và “Dân chủ ở cấp địa phương”, cuốn "Hỏi đáp về quyền con người", cuốn "Giáo trình quyền con người quốc tế", cuốn "Tư tưởng về quyền con người" do Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản) và 1 máy tính bảng)..

Khoảng 21h30, 3 sinh viên Lý Quang Sơn, Lý Trí Thành và Quyết Phạm bị đưa về công an phường Dịch Vọng để làm việc. Trong lúc bước lên xe ô tô, Lý Quang Sơn đã bị lực lượng an ninh nắm tóc và đập đầu vào cửa xe và tát liên tục vào mặt. Ở dưới sân nhà N06 có rất nhiều An ninh, Công an và Cảnh sát cơ động, họ còn điều động thêm 1 xe cứu thương và 2 xe thùng để dẹp đám đông anh em đến ứng cứu.

Trong đồn công an phường Dịch Vọng, Lý Trí Thành bị đánh liên tiếp vào mặt, vào đầu đầu, bụng và vai khi từ chối khai báo nhân thân và trả lời về các nguồn gốc cáctài liệu có trong phòng 604 tòa nhà N06. Riêng Quyết Phạm và Dũng Xe Máy không bị đánh và hai người không ký hay khai nhận điều gì.

Vào lúc 12h45 sáng ngày 28 tháng 11, Dũng Xe Máy được thả. Sau đó khoảng gần 2h sáng thì Lý Quang Sơn, Lý Trí Thành và Quyết Phạm lần lượt được ra khỏi đồn công an.

Từ Hà Nội, anh Lý Quang Sơn đã kể lại sự việc với phóng viên Trần Quang Thanh như sau:

Mời quí vị theo dõi

(Audio PV anh Lý Quang Sơn)

T.Q.T

Tác giả gửi BVN

Blogger Người Lót Gạch cũng lại bị bắt theo điều 258

RFA

Giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người lót gạch, một trí thức kiều bào về nước, vừa bị bắt giam vào khuya ngày 29 tháng 11 theo điều 258 Bộ Luật hình sự Việt Nam. Đây là trường hợp mới nhất tại Việt Nam bị bắt theo điều luật mà lâu nay bị lên án là mơ hồ nhằm trấn áp các tiếng nói phản biện trong nước.

Người ‘thoát Trung’ mạnh mẽ

Tin tức về việc “bắt quả tang”, rồi “khám xét nhà khẩn cấp” và “bắt giam” giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người lót gạch được blog nguyentandung loan đi sớm nhất.

Cổng thông tin của Bộ Công an có thông tin tương tự như trên trang blog nguyentandung. Theo đó cơ quan An ninh điều tra Thành phố Hồ Chí Minh, theo tin tố cáo của quần chúng, đã tiến hành biện pháp nghiệp vụ của họ đối với ông Hồng Lê Thọ, sinh năm 1949, hiện ngụ tại số 32 Cửu Long, phường 15, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ quan điều tra cho rằng ông Hồng Lê Thọ cho đăng trên mạng các bài viết với nội dung mà cơ quan này cho là “có nội dung xấu, thông tin sai lệch, làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân với cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân theo Điều 258 Bộ luật hình sự”.

Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, một người biết rõ về giáo sư Hồng Lê Thọ, cho biết những nhận xét của bản thân đối với người vừa bị bắt như sau:

“Tôi đã quen biết anh Thọ nhiều năm nay và tôi rất có tình cảm với anh Thọ. Tôi cho đó là một người trí thức có tinh thần dân tộc cao, một trong những người đưa ra đường lối ‘thoát Trung’ mạnh mẽ nhất, tách bạch và có chiều sâu nhất. Anh Thọ là một Việt kiều Nhật, anh rành cả tiếng Pháp và tiếng Anh, trang Người lót gạch của anh có thể nói gần như là trang duy nhất ở Việt Nam điểm tin bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, cung cấp lượng thông tin bổ ích cho độc giả. Anh cũng là người có kiến thức sâu trong khá nhiều lĩnh vực và có quan hệ với nhóm Việt Studies ở Hoa Kỳ và một số nước Phương Tây.

Theo tôi tựu trung lại anh là người có quan điểm rất ôn hòa về chính trị. Không bao giờ có chuyện nói anh vi phạm điều 258, chuyện lợi dụng cái này, lợi dụng cái kia hay vấn đề dân chủ để lật đổ chế độ hay tuyên truyền chống phá chế độ. Thậm chí khi nói chuyện với tôi anh phê phán thẳng một số quan điểm cực đoan; nhưng tôi không biết Nhà nước này bắt anh để làm gì? Nếu không vì một lý do gì đặc biệt và ẩn giấu, người ta phải công khai tất cả mọi chuyện, minh bạch hóa, không thể bắt giữ công dân một cách tùy tiện, mà đặc biệt vẫn sử dụng điều luật 258 mà quốc tế lên án”.

Nhà báo Phạm Chí Dũng cũng có ý kiến về việc bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ mà được nói là do những bài viết đăng trên Internet có nội dung xấu, thông tin sai lệch như cơ quan an ninh điều tra nêu ra:

“Theo tôi khó có thể đánh giá qua những bài viết, những bài đăng lại trên trang Người lót gạch để qui ra tội chống phá chính quyền. Thực sự tôi không đọc khá thường xuyên trang Người lót gạch vì bận quá nhiều việc; nhưng chúng tôi gặp nhau thường xuyên nói chuyện. Trước khi anh Thọ bị bắt khoảng hai tuần, chúng tôi có gặp nhau uống cà phê, và tôi thấy anh Thọ vẫn ổn, ôn hòa và anh nói về những bài viết, bài đăng lại trên trang Người lót gạch thì không có vấn đề gì cả. Đó là theo anh ta nhận định, và tôi cũng nghĩ rằng nếu Nhà nước muốn bắt những người bị coi là bất đồng chính kiến vào thời điểm này thì Nhà nước Việt Nam phải rất cân nhắc về chuyện làm sao họ có đủ lý do, đủ cơ sở, không thể đưa ra những lý do tùy tiện như trước đây, đặc biệt đối với những người như anh Hồng Lê Thọ. Tôi biết trong nhóm trí thức Việt Kiều, nhất là nhóm luôn có mong ngóng, mong đợi đóng góp những ý kiến phản biện để xây dựng kinh tế, xã hội, kể cả góp ý về một số vấn đề chính trị đối với Nhà nước Việt Nam, anh Thọ là người có uy tín và anh luôn đưa ra những gợi ý, những đóng góp mà tôi cho có giá trị. Anh cũng là người mà ở trong nước không phải ít người biết đâu, khá nhiều người biết anh, đặc biệt trong giới dân chủ- nhân quyền. Thành thử uy tín xã hội và năng lực cá nhân của anh Hồng Lê Thọ là vấn đề mà tôi cho rằng khi muốn bắt giữ anh, Nhà nước phải cân nhắc, phải thận trọng nếu không sẽ gặp phản ứng rắc rối và lớn chuyện từ phía Hoa Kỳ và Phương Tây”.

Bắt theo tố giác

Việc tiến hành khám xét và bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người lót gạch, còn được nói là theo tin tố giác của quần chúng. Nhà báo Phạm Chí Dũng có ý kiến về điều này:

“Về mặt tố giác của quần chúng, đó là một cụm từ chung trong pháp luật và điều tra xét hỏi bên ngành công an, điều đó không có gì sai vì tố giác của quần chúng là một cơ sở để có thể dẫn đến bắt giữ, bắt giam một nhân vật, một đối tượng hình sự nào đó. Tuy nhiên so với những nhân vật bất đồng chính kiến khác trước đây, lần này cơ quan an ninh điều tra lại dựa vào tố giác của quần chúng, đó là một hiện tượng khá bất thường, một cụm từ khá lạ được ứng vào trường hợp này. Tôi biết trong thực tế điều tra, xét hỏi ở Việt Nam, thường người ta áp dụng cơ sở tố giác của quần chúng đối với tội phạm là những trường hợp đối tượng hình sự; chứ không phải những đối tượng hoạt động chính trị, những nhân vật bất đồng chính kiến, hoặc dân chủ, đấu tranh cho nhân quyền. Trường hợp này áp dụng với anh Hồng Lê Thọ, tôi cho là khá lạ. Điều đó cho tôi một chút hy vọng là anh Thọ có thể sẽ không bị bắt lâu. Có thể qua một quá trình điều tra nào đó ngắn hạn, cơ quan Nhà nước: các cơ quan công an, chính quyền cũng sẽ phải thả anh ra”.

Vào chiều ngày 27 tháng 11 vừa qua, một nhóm sinh viên tại Hà Nội cũng bị lực lượng chức năng ập vào nhà khám xét, bắt đưa về đồn công an cũng như tịch thu một số tài liệu về dân chủ, nhân quyền của những sinh viên này. Việc làm đó cũng được nói là do có tố cáo của người dân những sinh viên này tàng trữ chất cháy, chất nổ. Facebooker Lý Quang Sơn phản bác về cơ sở có tố cáo để đột nhập vào phòng trọ của các bạn như sau:

“Họ viện cớ dùng đơn tố cáo để xâm nhập vào nhà chúng tôi. Tôi nói tôi hoàn toàn có thể dùng đơn tố cáo bất kỳ một quan tham nhũng nào, và ngay ngày mai tôi yêu cầu họ phải xông vào nhà quan tham nhũng đó để điều tra. Tôi thách đố họ làm điều đó, nhưng họ không thể làm được, họ không nói gì”.

Điều 258 vô lý

Việc khám nhà và bắt giữ giáo sư Hồng Lê Thọ, chủ nhân trang blog Người lót gạch, là trường hợp mới nhất bị bắt giữ theo điều 258 Bộ Luật hình sự Việt Nam. Điều luật này lâu nay bị nhiều người quan tâm cho rằng mơ hồ và Nhà nước lập ra để dễ bề trấn áp những tiếng nói đối lập, phản biện.

Hiện nay có hai trường hợp cũng đang bị truy tố và giam giữ với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân” theo điều 258 là blogger Anh Basam Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn thị Minh Thúy.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/1-mr-blog-arres-258-11302014050249.html

ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Bài 3: Đặc trưng thứ tư

Trần Quí Cao

Bài 1 và bài 2 đã đánh giá nước Việt Nam không đạt một tiêu chí nào trong 5 tiêu chí của Đặc trưng thứ nhất là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; không đạt tiêu chí duy nhất của Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ; không đạt hai tiêu chí của Đặc trưng thứ ba là có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

Bài này sẽ đánh giá các tiêu chí của Đặc trưng thứ tư (1).

Đặc trưng thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Đặc trưng này nói về văn hóa và có 2 tiêu chí: nền văn hóa tiên tiến, và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Nói tới văn hóa là nói tới một khái niệm rộng và phức tạp. Theo ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”.

Nhiều nhà sử học đồng ý rằng tại Việt Nam có 3 lớp văn hóa chồng chất lên nhau, trong đó văn hóa Đông Sơn là văn hóa bản địa hấp thu văn hóa Trung Quốc và văn hóa Phương Tây tạo nên văn hóa Việt Nam hiện nay.

Nền văn hóa tiên tiến

Theo ông Bùi Minh Huệ, văn Hóa tiên tiến là chống lại tất cả những gì trái khoa học, phản tiến bộ(2).

Nói tới khoa học là nói tới tính rộng mở đón nhận luận điểm trái chiều, đa chiều, là nói tới tinh thần “hoài nghi khoa học”. Tinh thần “hoài nghi khoa học” cho phép một cá nhân thách thức tính đúng đắn của bất kì luận điểm, chủ thuyết nào. Một cá nhân có tinh thần và thái độ khoa học luôn đặt câu hỏi trên những gì đang có, rồi đề ra giả thuyết giải thích, vạch ra chương trình thí nghiệm hay thăm dò dư luận tìm xem giả thuyết đó đúng hay sai. Nếu giả thuyết đó đúng, nhà khoa học đóng góp vào sự tiến bộ của tri thức. Bản chất của khoa học là bản chất đa nguyên. Độc quyền tư tưởng là phản khoa học. Cấm đoán đa nguyên là phản khoa học. Bắt mọi người theo một triết thuyết và chỉ triết thuyết đó thôi là phản khoa học.

Nền văn hóa của Việt Nam hiện nay phản khoa học, phản tiến bộ, do đó không tiên tiến.

Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Nước Việt Nam thuộc nhóm các nước Đông Nam Á, nền văn minh lúa nước nên có văn hóa trồng trọt, lối sống định cư, tâm lý cộng đồng nghiêng hơn về hướng nội, trọng tĩnh (so với văn hóa chăn nuôi du mục, du cư, nghiêng hơn hướng ngoại, trọng động, xem: Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, chương 2: Loại hình văn hóa). Nền văn hóa này, do nếp sống quần cư ổn định từ rất sớm, có đặc trưng nổi bật là cấu trúc làng xã, xây dựng nên “tình làng nghĩa xóm”. Trong các nấc thang giá trị tinh thần của nếp sống làng xã đó, người Việt đề cao chữ nhân, kết hợp chặt chẽ nhân với nghĩa, nhân với đức. “Có đức mặc sức mà ăn” hay “kiến nghĩa bất vi vô dũng dã”…

Người Việt nâng tục “thờ cúng tổ tiên” lên hàng tôn giáo: đạo thờ ông bà (3). Từ góc độ này, chữ hiếu rất được coi trọng, “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Từ khi Ngô Quyền dựng nền độc lập tới nay, Trung Quốc đã chín lần đem quân xâm chiếm ta. Việc liên tục phải chống Trung Quốc đã tạo một đặc trưng văn hóa nổi bật của Việt Nam là tư tưởng chống ngoại xâm “giặc tới nhà đàn bà cũng đánh”. Giặc đây là bất cứ kẻ xâm lăng nào, hễ chiếm đất, chiếm nước, chiếm đảo ta đều là giặc. Từ thế kỉ thứ XIX trở đi, Việt Nam bị Pháp xâm chiếm. Tuy nhiên, Pháp ở xa, và với phong trào giải thực trên thế giới sau Thế chiến thứ 2, sẽ không còn một quốc gia Phương Tây nào tới xâm chiếm ta nữa. Trái lại, việc Trung Quốc xâm chiếm vừa là nguy cơ ngàn đời, vừa là nguy cơ trước mắt, ông cha chúng ta luôn nhắc nhở không được quên mối nguy này. Hiện nay, các quốc gia hùng mạnh như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật... đã đạt trình độ văn minh vượt lên trên các quan niệm cũ kĩ lấn chiếm đất đai, tranh giành cai trị. Họ đang sống hợp tác và cạnh tranh bằng các biện pháp “mềm” (văn hóa, chính trị, giáo dục...). Trung Quốc, trái lại, vẫn còn ở trình độ dùng các biện pháp quân sự “cứng” lấn át và xâm chiếm lân bang, một quan niệm ngoại giao chiếm đất rất lỗi thời. Cho nên dân ta càng nên giữ gìn truyền thống văn hóa “chống ngoại xâm” để giữ độc lập và tự chủ nhằm xây dựng một một nước Việt Nam dân chủ, văn minh, cường thịnh.

Tóm lại, “nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” Việt Nam phải tôn quí các giá trị sau: a) Tình làng nghĩa xóm kết hợp với nhân nghĩa, nhân đức, b) Chữ hiếu quyện trong đạo ông bà, c) Lòng yêu nước quyện với tinh thần chống ngoại xâm.

Trong cuộc Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, nơi có văn hóa làng xóm vững chắc và đặc trưng, bà con được chính quyền tổ chức tố cáo, nhục mạ và giết nhau một cách dã man trước mắt toàn thể dân làng già trẻ gái trai và cả lứa tuổi nhi đồng! Khoảng 160-180 ngàn người chết trong các cuộc đấu tố tàn bạo.

Con cái gọi cha mẹ là “mày”, tố cáo cha mẹ trong các buổi đấu tố. Con cái “thành khẩn” nói xấu cha mẹ trong các bản kiểm điểm cách mạng. 

Trong xã hội hiện nay, không còn hiếm nữa các hiện tượng con giết cha, giết mẹ, giết anh em, giết ông bà vì xin tiền không được, vì tranh giành tài sản, vì bị trách mắng, vì say, vì nóng giận; bạn bè giết nhau, người yêu giết nhau rồi phân thây ra nhiều mảnh bỏ từng góc phố; tài xế đụng người bị thương thì cố ý cán lên người nạn nhân cho chết luôn để khỏi trả tiền nằm bệnh viện; cướp bóc giết người tràn lan…

Nguy cơ Trung Quốc thống trị Việt Nam ngày càng rõ rệt. Trung Quốc xua quân vào lãnh thổ Việt Nam giết gần trăm ngàn thường dân và bộ đội. Trung Quốc xua quân chiếm đảo Việt Nam, giết gần trăm chiến sĩ hải quân. Trước hoàn cảnh đó chính quyền lại gởi công hàm dâng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc; bí mật họp với Trung Quốc tại Thành Đô hứa hẹn nhượng bộ chủ quyền thêm nữa cho họ; bào chữa cho các hành động dã man của giặc, xóa đi chứng tích chiến tranh của giặc trên thực địa cũng như trong kí ức người dân; đàn áp tàn nhẫn các cuộc biểu tình ôn hòa phản đối quân xâm lược; công khai xem giặc đang lấn chiếm biên cương là bạn…

Rõ ràng, trong xã hội Việt Nam hiện nay, các giá trị tình làng nghĩa xóm, nhân nghĩa, nhân đức, lòng tôn kính Tổ tiên, hiếu để với cha mẹ, lòng yêu nướctinh thần chống ngoại xâm... đã bị tàn phá nặng nề, tàn phá tận gốc rễ. Các lời nói của giới cầm quyền về những giá trị truyền thống kể trên chỉ còn là những lời chót lưỡi đầu môi.

Người viết vẫn tin rằng các giá trị văn hóa Việt Nam vẫn còn bền chặt nơi tầng sâu tinh thần, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… của dân tộc. Tuy nhiên, rất nhiều biểu hiện cho thấy các giá trị bị đảo lộn, bóp méo hay đánh tráo. Nếu người Việt không đấu tranh để bảo tồn, dưỡng nuôi, phát triển các giá trị đó, thì tới một ngày không xa có thể chúng ta sẽ mất tất cả.

Rõ ràng nền văn hóa chính thống trong xã hội Việt Nam hiện nay là văn hóa mất gốc, xa lạ với truyền thống dân tộc.

TÓM LẠI:

Nước Việt Nam không đạt một tiêu chí nào trong 2 tiêu chí của Đặc trưng thứ ba là “có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”. Và cũng không đạt tiêu chí nào trong 2 tiêu chí của Đặc trưng thứ tư “có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

T.Q.C

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Hữu Nghĩa. “Những đặc trưng thể hiện tính ưu việt của Chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng”, tham luận tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng. (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 14/01/11 16:52.

1. Bùi Minh Huệ. Tính dân tộc, khoa học, đại chúng của văn hóa. http://baohatinh.vn/news/van-hoa-nghe-thuat/tinh-dan-toc-khoa-hoc-dai-chung-cua-van-hoa/72094.

2. Bộ Văn hóa Thông tin. Nền Văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Vietnam+. 01/03/2010

http://hanoi.vietnamplus.vn/Home/Nen-van-hoa-Viet-Nam-dam-da-ban-sac-dan-toc/20103/422.vnplus

4. Trần Đình Hượu. Đặc sắc văn hóa Việt Nam. http://huc.edu.vn/chi-tiet/451/Dac-sac-van-hoa-Viet-Nam.html

Nguồn: https://anhbasam.wordpress.com/2014/11/26/3125-danh-gia-thanh-qua-dat-duoc-sau-39-nam-xay-dung-xa-hoi-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-bai-3/

Nguồn: https://anhbasam.wordpress.com/2014/11/26/3124-danh-gia-thanh-qua-dat-duoc-sau-39-nam-xay-dung-xa-hoi-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-bai-1-va-bai-2/

Quyền tự do lập hội của các Hướng đạo sinh Việt Nam bị xâm phạm như thế nào?

     Ls Nguyễn Lệnh (cựu Hướng đạo sinh Hội HĐVN)

     Phong trào Hướng đạo được một người Anh là Huân tước Robert Baden Powell sáng lập năm 1907. Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 200 quốc gia, vùng lãnh thổ có tổ chức Hướng đạo, trong đó 165 Tổ chức Hướng đạo Quốc gia được công nhận tư cách hội viên của Tổ chức Thế giới của Phong trào Hướng đạo (World Organization of the Scout Movement, viết tắt là WOSM). Tại Điều 1 của Hiến chương WOSM có ghi rõ "Phong trào Hướng đạo là một phong trào giáo dục, phi chính trị và tự nguyện cho giới trẻ không phân biệt nguồn gốc, nòi giống hay tín ngưỡng, phù hợp với mục đích, nguyên tắc và phương pháp hình thành bởi Người sáng lập".

     Ở Việt Nam, sau khi giành được độc lập từ Pháp, chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) được thành lập vào ngày 2/9/1945, bầu cử Quốc hội đầu tiên vào ngày 6/1/1946 và một bản Hiến pháp được thông qua ngày 9/11/1946. Trong những ngày tháng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, Hội Hướng đạo Việt Nam (Hội HĐVN) được thành lập vào ngày 7/2/1946 và được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm Hội trưởng danh dự vào ngày 31/5/1946 (1). Nhưng sau đó, chiến tranh Việt - Pháp nổ ra vào tháng 11/1946, đầu tiên là tại Hải Phòng, Chính phủ Việt Nam phải sơ tán khỏi Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" ngày 19/12/1946.

     Trong thời gian Chính phủ Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh rút vào các vùng núi kháng chiến chống Pháp thì ngày 8/3/1948 Tổng thống Pháp Vincent Auriel và Cựu hoàng Bảo Đại của Việt Nam đã ký kết Hiệp ước Elysée ngày 8/3/1948, tuyên bố xác nhận "nền độc lập của Việt Nam" và chính thức thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. Cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu từ ngày 19/12/1946 và kết thúc bằng Hiệp định đình chiến Genève ngày 20/7/1954. Người thay mặt cho Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam ký kết Hiệp định Genève là Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng VNDCCH và là Tổng ủy viên của Hội HĐVN. Theo Hiệp định Genève 1954, lãnh thổ nước Việt Nam tạm chia làm 2 vùng kiểm soát, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự. Miền Bắc vĩ tuyến 17 do lực lượng VNDCCH kiểm soát; còn miền Nam vĩ tuyến 17 do lực lượng Liên hiệp Pháp, trong đó có lực lương Quốc gia Việt Nam kiểm soát. Đến năm 1955 chính thể Quốc gia Việt Nam ở miền Nam đổi tên là Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và đến ngày 30/4/1975 nước Việt Nam thống nhất cả 2 miền Nam, Bắc.

     Do hoàn cảnh chiến tranh và hậu quả của Hiệp định Genève, nước Việt Nam đã bị phân chia thành 2 miền Nam - Bắc với 2 chính thể khác nhau từ năm 1954 đến 1975 nên cũng có đến 2 Hội HĐVN được thành lập một cách hợp pháp. Một Hội HĐVN được thành lập đầu tiên ở Hà Nội ngày 7/2/1946 dưới chính thể VNDCCH; và 7 năm sau, tại Sài Gòn, dưới chính thể Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại, một Hội HĐVN thứ hai được thành lập bằng một Nghị định riêng có tên "Nghị định số 326-NĐ/TN ngày 9/2/1953” do Bộ trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao là Vũ Hồng Khanh ký tên, đã "Chiếu đơn số 003-HT-HĐ ngày 12/6/1952 của ông Hội trưởng Hướng đạo Việt Nam để ban hành Nghị định này và ghi rõ tại Điều thứ nhất là "Hội HĐVN được phép hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam, theo bản điều lệ đính kèm theo Nghị định này. Chính Hội HĐVN thứ hai được thành lập ngày 9/2/1953 đã gia nhập WOSM và được công nhận là một Tổ chức Hội viên của WOSM vào năm 1957.

     Cả 2 Hội HĐVN này được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nhiều năm dưới 2 chính thể khác nhau nhưng có chung một tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, theo thời gian, cả 2 Hội HĐVN có tư cách pháp nhân này đều bị chấm dứt hoạt động một cách không rõ ràng và không bình thường. Việc chấm dứt pháp nhân của 2 tổ chức xã hội này được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở VN đưa ra lời giải thích không phù hợp với các quy định của pháp luật. Qua nghiên cứu các chứng cứ và các tư liệu liên quan đến sự thành lập, hoạt động và chấm dứt của 2 Hội HĐVN trong thời gian qua, tôi thấy cần làm rõ các khía cạnh pháp lý về sự chấm dứt hoạt động này nhằm trả lời câu hỏi là quyền lập hội của các Hướng đạo sinh 2 Hội HĐVN có bị xâm phạm hay không? Nếu có thì cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào phải chịu trách nhiệm về sự xâm phạm quyền lập hội của những HĐS VN theo quy định của pháp luật Việt Nam?

I. Khuôn khổ pháp luật về quyền lập hội dưới các chính thể ở Việt Nam từ 1945 đến 2014:

     1/ Quyền lập hội trong khuôn khổ pháp luật dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2014):

    Có thể xác định khuôn khổ pháp luật về quyền lập hội từ 1945 đến 2014 bao gồm các văn bản pháp luật sau đây: 

     - Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH ngày 9/11/1946 có ghi tại Điều 10: "Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, Tự do tổ chức và hội họp, Tự do tín ngưỡng, Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài".

     - Sắc Lệnh Luật số 102-SL/L-004 Quy định quyền lập hội do Chủ tịch Nước VNDCCH ban hành ngày 20/5/1957. "Quyền lập hội" ghi trong Sắc Lệnh Luật số 102-SL/L-004 (sau đây gọi là Sắc lệnh 102 năm 1957) chính là "Quyền tự do tổ chức" ghi trong Hiến pháp đầu tiên 1946.

     - Hiến pháp tiếp theo của VNDCCH ngày 31/12/1959 cũng gọi là "Quyền tự do lập hội" giống như trong Sắc lệnh 102 năm 1957 khi quy định tại Điều 25 rằng: "Công dân nước VNDCCH có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó".

     - Hiến pháp nước CHXHCNVN ngày 18/12/1980 cũng quy định "quyền tự do lập hội" tại Điều 67.

     - Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982 quy định "quyền tự do lập hội" tại Điều 22.

     - Hiến pháp nước CHXHCNVN ngày 15/4/1992 (sửa đổi bổ sung 2001) cũng quy định tại Điều 69: "công dân có quyền lập hội theo quy định của pháp luật".

     - Bộ luật hình sự 1999, Điều 129: "Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân".

     - Nghị định của Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

     - Nghị định của Chính phủ số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội - thay thế Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003.

     - Hiến pháp nước CHXHCNVN ngày 28/11/2013 cũng quy định tại Điều 25: "Công dân có quyền... lập hội...".

     Như vậy, căn cứ vào Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và Sắc lệnh 102 năm 1957 thì "Quyền tự do tổ chức" còn được gọi là "Quyền tự do lập hội"; và một "tổ chức" cũng được gọi là một "hội".

     Để có thể hiểu và đánh giá đúng về Sắc lệnh 102 năm 1957 xin được trích dẫn một số điều luật chủ yếu trong tổng cộng 12 điều của Sắc lệnh này:

"Điều 1. Quyền lập hội của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân, để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân của nước ta.

     Điều 3. Để bảo đảm việc lập hội có mục đích chính đáng, bảo vệ và củng cố chế độ dân chủ nhân dân, lập hội phải xin phép. Thể lệ lập hội sẽ do Chính phủ quy định.

     Điều 4. Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này và đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại.

     Điều 7. Người nào xâm phạm đến quyền lập hội hoặc đến quyền tự do vào hội, ra hội của người khác có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước tòa án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm.

     Điều 9. Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận Dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận, không thuộc phạm vi quy định của luật này.

     Điều 10. Các hội có mục đích kinh tế không thuộc phạm vi quy định của luật này".

     Xin nêu một số nhận xét về Sắc lệnh 102 năm 1957 như sau:

     - Tại Điều 1 của Sắc lệnh không nêu ra một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ về các đối tượng và phạm vi điều chỉnh mà chỉ quy định rằng lập hội phải có mục đích và mục đích được mô tả chỉ có tính chất chính trị là: "Lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân, để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân của nước ta". Quy định hội chỉ có mục đích chính trị như Điều 1 là không được đầy đủ, bởi vì trong pháp luật dân sự - như tại Điều 110 Bộ luật Dân sự ngày 28/10/1995, đã phân loại "hội" hay "tổ chức" là căn cứ vào nhiều loại mục đích khác nhau như là: chính trị, xã hội, kinh tế, nghề nghiệp, từ thiện... hoặc có mục đích hỗn hợp như: xã hội - nghề nghiệp, chính trị - xã hội, chính trị - xã hội nghề nghiệp. Tuy nhiên, quy định thiếu sót tại Điều 1 như thế chứng tỏ Sắc lệnh 102 năm 1957 (có tất cả 12 điều) có chủ đích áp dụng cho những "tổ chức chính trị", "đảng phái chính trị" đã hoạt động trước khi Sắc lệnh này ban hành vì Sắc lệnh này buộc những đảng phái chính trị đó "đều phải xin phép lại" theo Điều 4. Đồng thời, Sắc lệnh này cũng áp dụng cho những "tổ chức chính trị", "đảng phái chính trị" sẽ được thành lập trong tương lai sau khi Chính phủ ban hành "Thể lệ lập hội" như đã ghi tại điều 3.

     - Liệt kê tên 19 liên minh và đảng phái chính trị Việt Nam vào thời kỳ trước khi có Sắc lệnh số 102 năm 1957 (1945 - 1954) như sau: - Đảng Lao động Việt Nam - Việt Nam Quốc dân đảng - Đại Việt Quốc dân đảng - Đảng Xã hội Việt Nam - Đảng Dân chủ Việt Nam - Việt Nam Độc lập Đồng minh hội - Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội - Việt Nam Dân chủ Xã hội đảng - Đảng Dân chủ An Nam - Liên minh Dân chủ - Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam - Bảo hoàng chính đảng - Mặt trận Thống nhất Quốc gia liên hiệp - Tân Việt Nam đảng - Liên đoàn Công giáo Việt Nam - Việt Nam Quốc gia liên hiệp - Việt Nam Phục quốc đồng minh hội - Mặt trận Quốc gia liên hiệp - Việt Nam Dân chúng liên đoàn (2). Như vậy, một "tổ chức chính trị", trước năm 1957, có thể mang những tên khác nhau như: đảng, hội, mặt trận, liên đoàn, liên minh, liên hiệp ... Và "các tên gọi khác nhau" đó cũng được giải thích tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định của Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội rằng: "Hội có các tên gọi khác nhau: liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn, hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là hội)". Trong Nghị định Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 này cũng có ý tránh, không sử dụng tên gọi "đảng chính trị" hay "tổ chức chính trị" nhưng tại Điều 4 của Nghị định này có ghi tại Khoản 2 rằng: "Hội được công nhận là tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, hội có hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo quy định của Thủ tướng Chính phủ". Như vậy, tổng hợp các quy định trong các Hiến pháp 1946, 1959, Sắc lệnh 102 năm 1957, Nghị định Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 và cả Bộ luật Dân sự 1995 mà Nghị định 88/2003 dùng làm căn cứ thì các tổ chức chính trị hay các đảng phái chính trị là những đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Sắc lệnh 102 năm 1957.

     - Thực tế sau khi ban hành Sắc lệnh 102 năm 1957 thì trong số 19 liên minh và đảng phái chính trị VN đang hoạt động có 16 đảng phái chính trị không thể "xin phép lại" được theo quy định của Điều 4. Còn người dân muốn lập hội mới thì "phải xin phép" và phải chờ "Thể lệ lập hội sẽ do Chính phủ quy định" như đã ghi tại Điều 3. Thế nhưng công dân VN phải chờ thêm 46 năm tính từ ngày có Sắc lệnh này, Chính phủ mới ban hành "Thể lệ lập hội" bằng Nghị định Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Riêng 3 đảng chính trị là Đảng Lao động Việt Nam (tên gọi Đảng CSVN từ năm 1951), Đảng Dân chủ VN và Đảng Xã hội VN do nằm trong Việt Minh và Mặt trận Liên Việt - tức Mặt trận Dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, nên 3 đảng này vẫn tiếp tục hoạt động theo quy định tại điều 9 của Sắc lệnh này. Tuy nhiên, đến Hiến Pháp ngày 18/12/1980 của nước VN thống nhất là CHXHCNVN đã quy định tại điều 4: "Đảng Cộng sản Việt Nam,.....là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội ..." khiến dẫn đến hệ quả vào năm 1988 cả 2 Đảng Dân chủ VN và Đảng Xã hội VN đều tuyên bố "giải thể". Rất dễ nhận ra với quy định tại Điều 4 của Hiến pháp 1980 rằng "Đảng Cộng sản Việt Nam ... là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội..." đã trực tiếp xâm phạm đến "quyền tự do tổ chức" trong Hiến pháp 1946, xâm phạm "quyền tự do lập hội" trong Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980, đồng thời tạo ra sự mâu thuẫn và xung đột pháp lý giữa "quyền tự do lập hội" bao gồm nhiều đảng khác nhau và Đảng CSVN là "lực lượng duy nhất" ngay trong Hiến pháp 1980. Đến Hiến pháp 1992, Quốc hội đã xóa bỏ 2 từ "duy nhất" tại Điều 4 nên Đảng CSVN không còn là "lực lượng duy nhất" nữa và như thế là mặc nhiên xóa bỏ chế độ "độc đảng" và tái công nhận "quyền tự do tổ chức", "quyền tự do lập hội" trong tất cả các Hiến pháp trước đó và trong Sắc lệnh 102 năm 1957. Nếu một đảng chính trị nhận được sự tín nhiệm và ủng hộ của nhân dân hoặc của Quốc hội tùy theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì đảng đó sẽ nắm giữ vai trò là đảng cầm quyền, là "lực lượng lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội". Sắc lệnh 102 năm 1957 được ban hành chính là để áp dụng cho nhiều đảng phái chính trị (đa đảng) đang hoạt động và sẽ được thành lập trong tương lai. Không có điều khoản nào trong Sắc lệnh này thể hiện rằng Sắc lệnh được làm ra là chỉ dành cho một đối tượng, một đảng "duy nhất" cụ thể nào. Khi Sắc lệnh 102 năm 1957 ghi tại Điều 3 rằng "Thể lệ lập hội sẽ do Chính phủ quy định" là đã xác định đối tượng xin lập hội mới bao gồm nhiếu đảng phái chính trị khác trong tương lai chứ không phải chỉ có 3 đảng là Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam và Đảng Dân chủ Việt Nam là những đảng chính trị được miễn "xin phép lại" như quy định tại Điều 9.

      Vậy, vào thời điểm hiện tại (2014), một "tổ chức chính trị" hay một "đảng chính trị" có phải là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Sắc lệnh 102 năm 1957 và Nghị định Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 hay không? Câu trả lời đã được thể hiện ngay tại Điều 4 của Sắc lệnh: “Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này và đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại. Hệ quả là có 19 đảng phái chính trị hoạt động trước 1957 phải xin phép lại nhưng đã có 16 đảng phái đã bị xóa tên vì không vượt qua được quyền cấp phép của cơ quan thẩm quyền. Còn những ai muốn lập hội mới tức các đảng phái chính trị mới thì phải xin phép theo "Thể lệ lập hội" sẽ do Chính phủ quy định như đã ghi tại điều 3: "Để bảo đảm việc lập hội có mục đích chính đáng, bảo vệ và củng cố chế độ dân chủ nhân dân, lập hội phải xin phép. Thể lệ lập hội sẽ do Chính phủ quy định". Tức là, những đảng phái chính trị đã hoạt động trước ngày ban hành Sắc lệnh 102 năm 1957 hoặc sẽ thành lập mới sau khi Chính phủ ban hành "Thể lệ lập hội" đều là những đối tượng áp dụng Sắc lệnh này. Nghị định Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 chính là "Thể lệ lập hội" được quy định trong Sắc lệnh 102 năm 1957 khi ghi rõ ở phần đầu Nghị định là: "Căn cứ Sắc lệnh số 102/SL-L004 ngày 20/5/1957 ban hành Luật quy định quyền lập hội" và "Căn cứ Bộ Luật dân sự ngày 28/10/1995".

     Tuy nhiên, các công dân Việt Nam muốn thành lập một hội có mục đích chính trị đã phải bối rối khi đọc "Thể lệ lập hội" được Chính phủ ban hành bằng Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 với định nghĩa về hội tại Điều 2, Khoản 1 như sau: "Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan". Đây là một định nghĩa được tác giả cố ý sử dụng câu chữ rối rắm, đánh đố người đọc, khiến cho người đọc dễ hiểu sai rằng "hội" trong Nghị định này không bao gồm "tổ chức chính trị"; hoặc hiểu sai rằng Nghị định này không bao gồm các "đảng chính trị" vốn là đối tượng áp dụng của Sắc lệnh 102 năm 1957. Rồi đến khi Chính phủ ban hành tiếp Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 để thay thế Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 thì định nghĩa về hội vẫn giữ nguyên, chỉ bổ sung những chi tiết không quan trọng (được gạch chân) như sau: "Hội được quy định trong Nghị định này được hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan".

Tóm lại, từ năm 1945 đến 2014, dưới chính thể VNDCCH và CHXHCNVN đã có 5 bản Hiến pháp được ban hành và trong mỗi bản Hiến pháp đều có quy định quyền tự do lập hội của công dân VN. Nhưng từ sau khi Sắc lệnh 102 năm 1957 ban hành thì kết quả của việc thi hành Sắc lệnh này là đã xóa bỏ tất cả những đảng phái chính trị đang hoạt động vì những tổ chức này đã không được chính quyền cấp phép lại, chỉ có 3 đảng là Đảng LĐVN cầm quyền, Đảng XHVN và Đảng DCVN còn tiếp tục hoạt động. Đến năm 1988, Đảng DCVN và Đảng XHVN tiếp tục giải thể, chỉ còn lại duy nhất đảng cầm quyền là Đảng CSVN. Tuy việc ban hành Sắc lệnh 102 năm 1957 đã xóa bỏ các đảng phái chính trị đối lập với đảng cầm quyền nhưng mãi đến năm 2003 Chính phủ mới ban hành "Thể lệ lập hội" bằng Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 để các công dân VN có điều kiện tiến hành các thủ tục xin thành lập hội là đảng chính trị mới theo quy định của Sắc lệnh 102 năm 1957 và của 5 bản Hiến pháp. Tuy nhiên, cho đến nay, trong thực tế vẫn chưa thấy có một đảng chính trị nào nộp đơn xin phép thành lập (?). Câu hỏi tại sao xin được để ngỏ.

2/ Quyền lập hội trong khuôn khổ pháp luật dưới chính thể Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa (1948 - 1975):

Quyền lập hội của công dân được ấn định trong Dụ số 10 ngày 6/8/1950 (sau đây gọi là Dụ số 10 năm 1950) do Quốc trưởng Bảo Đại ban hành. Đến ngày 19/11/1950  Dụ số 24 được ban hành để sửa đổi bổ sung Dụ số 10. Dụ số 10 ngày 6/8/1950 được áp dụng dưới chính thể Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hoà cho đến ngày 30/4/1975. Xin trích dẫn quy định của Điều 1 trong Dụ số 10 đã đưa ra một định nghĩa về hội rất rõ ràng, dễ hiểu:

"Điều 1- Hội là Hiệp ước của hai hay nhiều người thỏa thuận góp kiến thức hay hành lực một cách liên tiếp để theo đuổi mục đích không phải là phân chia lợi tức, như là mục đích thuộc về tế tự, tôn giáo, chính trị, từ thiện, khoa học, văn học, mỹ nghệ, tiêu khiển, thanh niên, thể thao và đồng nghiệp ái hữu.

     Muốn có hiệu lực thì hội nào cũng phải hợp với nguyên tắc chung của pháp luật về khế ước và nghĩa vụ".

Trong thời gian áp dụng Dụ số 10 từ 1950 đến 1975 đã có 16 đảng phái chính trị hoạt động như sau: - Đảng Phục hưng - Đảng Dân chủ Nam Việt Nam - Đảng Xã hội cấp tiến Miền Nam Việt Nam - Cần lao nhân vị cách mạng đảng - Việt Nam dân chủ xã hội đảng - Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam - Đại Việt quốc dân đảng - Đảng Tân Đại Việt - Đại Việt cách mạng đảng - Phong trào Quốc gia cấp tiến - Liên minh Các lực lượng dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam - Phong trào Quốc gia tiến bộ - Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam - Mặt trận Quốc gia dân chủ xã hội - Đảng Công nông Việt Nam - FULRO (3).

     Như vậy, trong phần định nghĩa của Dụ số 10 năm 1950 dưới chính thể Quốc gia Việt Nam cũng lấy mục đích theo đuổi khác nhau của các tổ chức để phân loại các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Dụ, tương tự như Sắc lệnh 102 năm 1947 của chính thể VNDCCH và Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 dưới chính thể CHXHCNVN.

II. Hội Hướng đạo Việt Nam được thành lập, hoạt động và tồn tại như thế nào dưới các chính thể ở Việt Nam?:

1/ Hội HĐVN dưới chính thể VNDCCH và CHXHCNVN (gọi là Hội HĐVN 1946):

     Sau khi Việt Nam giành được độc lập từ thực dân Pháp năm 1945 thì một "Hội Hướng đạo Việt Nam không hoạt động và cổ động về mặt chính trị. Hội HĐVN không giới hạn trong thời gian" được thành lập để "thay và thống nhất ba hội Hướng đạo Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ ... với mục đích huấn luyện thanh niên về ba phương diện: đức, thể, thực theo tôn chỉ và phương pháp...", về sau được gọi là "phương pháp Hướng đạo" (4). Hội HĐVN được Chính phủ VNDCCH chính thức công nhận khi Điều lệ (Quy trình) của hội được duyệt y ngày 7/2/1946 do ông Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ Chính phủ VNDCCH Hoàng Minh Giám ký. Ngày 31/5/1946 Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Hồ Chí Minh gởi thư cho Hội trưởng Hội HĐVN báo tin nhận làm DANH DỰ HỘI TRƯỞNG HỘI HĐVN.

     Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH ngày 9/11/1946 đã bảo hộ quyền lập hội của các HĐS Hội HĐVN tại Điều 10: "Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận - Tự do tổ chức và hội họp - Tự do tín ngưỡng - Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài". Đến ngày 20/5/1957, Chủ tịch Nước VNDCCH đã ban hành Sắc lệnh số 102 Quy định quyền lập hội. Tại Điều 4 của Sắc lệnh ghi rõ: "Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này và hoạt động trong vùng bị tạm chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại". Hội HĐVN được thành lập và hoạt động hợp pháp dưới chính thể VNDCCH, có Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Hồ Chí Minh làm DANH DỰ HỘI TRƯỞNG nên đã không "phải xin phép lại" sau ngày ban hành Sắc lệnh.  

Cũng  vào năm 1957, Hội HĐVN đã cùng với 3 tổ chức khác là Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam và Hội Học sinh Việt Nam thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (Hội LHTNVN) với tư cách là "Thành viên tập thể của Hội LHTN". Là "thành viên tập thể của Hội LHTNVN", Hội HĐVN đã thảo luận, đề nghị các vấn đề về hoạt động của Hội LHTNVN, giới thiệu đại diện của Hội HĐVN vào Ủy ban Hội LHTNVN các cấp ... trong cả 2 kỳ Đại hội toàn quốc Hội LHTNVN (lần thứ 1) năm 1957 và tiếp theo Đại hội toàn quốc Hội LHTNVN (lần thứ 2) năm 1961. Hiện nay, các huynh trưởng Hội HĐVN vẫn còn lưu giữ 2 thẻ đại biểu của huynh trưởng Phạm Ngọc Try là đại biểu của Hội HĐVN tham dự 2 lần đại hội nói trên của Hội LHTNVN. Ngoài ra, các huynh trưởng Hội HĐVN vẫn còn lưu giữ một văn bản ghi ngày 5/2/1965 có đóng dấu đỏ của Bộ Tổng ủy viên Hội HĐVN 1946 (ở miền Bắc) gởi cho các anh chị huynh trưởng và các Tráng, Thiếu, Ấu là Hướng đạo sinh Trung, Nam bộ thuộc Hội HĐVN ở miền Nam. Các chứng cứ còn lưu giữ này cùng với "Danh sách 220 Hướng đạo sinh đã tham gia Cách Mạng và có những nhiệm vụ quan trọng trong các lĩnh vực Đảng, quân đội và các ngành khác từ 1945 đến nay"(5), đã chứng minh một cách thuyết phục rằng: Một Hội HĐVN đầu tiên được thành lập trong khuôn khổ pháp luật dưới chính thể VNDCCH và đã hoạt động liên tục từ ngày thành lập 7/2/1946 cho đến ít nhất là ngày 5/2/1965.

     Sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, các huynh trưởng thuộc Hội HĐVN thành lập năm 1946 (ở miền Bắc VN) mà hầu hết là các đảng viên CS đã cùng với các huynh trưởng Hội HĐVN thành lập năm 1953 (ở miền Nam VN) gởi khoảng trên 10 đơn, thư, kiến nghị đến các vị lãnh đạo Đảng CS và Nhà nước VN để vận động, xin phép tái lập Hội HĐVN nhưng đều không nhận được bất cứ câu trả lời nào. Xin được liệt kê các đơn, thư, kiến nghị đó:

     - Trưởng Trần Hữu Khuê đã gởi đến các vị lãnh đạo Đảng, Quốc hội và Nhà nước tổng cộng 6 văn bản vào các ngày: 18/11/1988, 6/4/1989, 14/10/1992, 28/3/1996, 8/8/1997, 1/7/2000.

     - Trưởng Nguyễn Dực thay mặt 20 Trưởng Hướng đạo gởi đơn ngày 3/3/1993

     - Trưởng Bạch Văn Quế gởi thư ngày 22/4/1997.

     - Trưởng Nguyễn Phước Hoàng (Tôn Thất Hoàng) gởi thư ngày 18/8/1997.

     - Trưởng Nguyễn Phúc Quỳnh Hòe gởi thư ngày 18/3/2000.

     Đặc biệt là trong bài nghiên cứu có tựa "Lịch sử Phong trào Hướng đạo Việt Nam" của Trưởng Lê Duy Thước ghi ngày 31/05/1996 đã ghi lại sự kiện các huynh trưởng của 2 Hội HĐVN ở 2 miền Nam, Bắc VN đã cùng nhau thành lập một Ban Liên lạc HĐVN như sau: "Năm 1991, Anh Hoàng Đạo Thúy ( là người đã cùng với Trưởng Trần Văn Khắc sáng lập Hội HĐVN) ký giấy ủy nhiệm cho 21 huynh trưởng Hướng đạo cũ, lập thành Ban Liên lạc lâm thời Hướng đạo Việt Nam (Trưởng ban Nguyễn Dực, thư ký Lê Duy Thước).Tháng 12/1991, Ban LLLT HĐVN tổ chức họp mặt truyền thống, có hơn 200 anh chị em Hướng đạo cũ đến dự. Họp ở hội trường lớn Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh sáng 19/12/1991.... Tháng 05/1993, Ban Liên lạc LT HĐVN lại tổ chức cuộc họp truyền thống Hướng đạo ở đình làng Đại Yên (Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội), có hơn 300 Hướng đạo sinh cũ về dự, trong số có gần 40 anh chị em cựu Hướng đạo hoạt động ở miền Trung và miền Nam..."(8).

     Tại sao Đảng CSVN và Nhà nước VN không quan tâm trả lời các đơn, thư, kiến nghị xin tái lập hội của các huynh trưởng Hội HĐVN ? Sự im lặng như thể xác nhận những lời nói lờ mờ rằng Hội HĐVN 1946 bị "ngừng hoạt động" là do "ý ở trên"(?). Mãi đến khi Nghị định của Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội được ban hành thì các huynh trưởng Hội HĐVN mới vui mừng chào đón cơ hội tái lập Hội HĐVN. Sau 46 năm kể từ ngày có Sắc lệnh 102 năm 1957, nay Chính phủ mới ban hành "Thể lệ lập hội", mà theo đó quyền thành lập Hội HĐVN của các huynh trưởng đã có được cơ sở pháp lý để tiến hành thủ tục tái lập Hội HĐVN, thực hiện quyền công dân của mình theo các quy định của pháp luật chứ không phải làm những bản "kiến nghị" xin xỏ gởi các cấp lãnh đạo như trước.

2/ Hội HĐVN dưới chính thể Quốc gia Việt Nam và VNCH (gọi là Hội HĐVN 1953):

     Hội HĐVN được thành lập dưới chính thể Quốc gia Việt Nam bằng một Nghị định riêng có tên "Nghị định số 326-NĐ/TN ngày 9/2/1953 của ông Bộ Trưởng Bộ Thanh niên và Thể thao" là Vũ Hồng Khanh ký tên, đã "chiếu Dụ số 10 ngày 6/8/1950, ấn định thể lệ lập hội", "chiếu Dụ số 24 ngày 19/11/1952, sửa đổi Dụ số 10 ngày 6/8/1950" và "chiếu đơn số 003-HT-HĐ ngày 12/6/1952 của ông Hội trưởng Hướng đạo Việt Nam" để ban hành Nghị định này và có ghi rõ tại Điều thứ nhất là "Hội HĐVN được phép hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam, theo bản điều lệ đính kèm theo nghị định này". Chính Hội HĐVN thứ hai được thành lập ngày 9/2/1953 dưới chính thể Quốc gia Việt Nam đã gia nhập WOSM và được công nhận là một Tổ chức Hội viên của WOSM vào năm 1957.

     Hội HĐVN 1953 này đã có điều kiện phát triển ổn định cho đến năm 1975. Trong quãng thời gian đó Hội HĐVN 1953 tuy đã sửa đổi Điều lệ (Quy trình) vào các năm 1959, năm 1962 và năm 1967 nhưng vẫn giữ nguyên là một tổ chức xã hội có "mục đích giáo dục thanh thiếu nhi trong toàn cõi VN về ba phương diện: đức, thể, thực theo tôn chỉ và phương pháp Hướng đạo", "không phân biệt tôn giáo, chủng tộc và quốc tịch", "không hoạt động và cổ động chính trị". Tính đến ngày 31/12/1974, Hội HĐVN 1953 có tổng số đoàn sinh và huynh trưởng đóng bảo hiểm là 14.432 người, trong đó có 2.204 huynh trưởng. Do "phương pháp Hướng đạo" có tính chất rất đặc biệt, còn gọi là "phương pháp hàng đội tự quản", bao gồm các nhóm nhỏ tự quản dưới sự hướng dẫn của huynh trưởng, nên không thể phát triển số lượng đoàn sinh nếu không có đủ huynh trưởng phụ trách. Vì vậy, dù được hoạt động tự do, Hội HĐVN 1953 sau 22 năm, cũng chỉ có thể phát triển tối đa là trên 12.000 đoàn sinh trên toàn miền Nam VN mà thôi. Con số này là quá ít nếu so sánh với số lượng đoàn viên Đoàn Thanh niên CS Hồ Chí Minh hiện nay và không tính đến số lượng các em trong Đội Thiếu niên tiền phong HCM: "Theo báo cáo của Đại hội Toàn quốc lần thứ VIII Đoàn TNCS HCM (2007) thì tại VN hiện có khoảng 6,1 triệu đoàn viên. Theo BBC thì tại Tp.HCM, thành phố lớn nhất VN, vào năm 2005 có khoảng 70% thanh niên đang đứng ngoài hàng ngũ Đoàn TNCS (khoảng 390.000 đoàn viên trên tổng số 2,3 triệu người từ độ tuổi 16 đến 30)" (9). Cũng vào năm 2006, trên toàn VN, ước tính có khoảng trên 4.000 đoàn sinh và huynh trưởng HĐVN đang sinh hoạt nhưng phần lớn tập trung ở Tp.HCM.

     Do quyền tự do lập hội được quy định rất rõ ràng trong Dụ số 10 năm 1950 và được thực thi trong thực tế nên hoạt động của Hội HĐVN 1953 đã tạo được tiếng vang là một phong trào có mục đích giáo dục thanh thiếu nhi bằng "hình thức và phương pháp Hướng đạo" rất đăc biệt, bổ sung cho giáo dục gia đình và giáo dục học đường, rèn luyện các em trở thành những đứa con tốt, những học trò tốt và những công dân tốt. Những Hướng đạo sinh khi trưởng thành đã tham gia hoạt động chính trị trong các đảng phái với tư cách công dân - tương tự như các HĐS là đảng viên Đảng CSVN dưới chính thể ở miền Bắc. Tiếng tốt do hoạt động của Hội HĐVN đã khiến cho các tổ chức tôn giáo và các lực lượng quân đội, cảnh sát ở miền Nam cũng muốn xây dựng một tổ chức tương tự, áp dụng "hình thức và phương pháp Hướng đạo" để giáo dục cho con em trong tổ chức, lực lượng của mình có được những phẩm chất tốt đẹp như các Hướng đạo sinh trong Hội HĐVN. Có thể nêu ra một số tổ chức, lực lượng như sau:

     - Gia đình Phật tử: Do thời điểm xuất hiện của Gia đình Phật tử với hình thức tổ chức và phương pháp giáo dục có nhiều điểm tương tự như của Hội HĐVN khiến cho nhiều người cho rằng Hội HĐVN là mô hình giáo dục thanh thiếu nhi đã được chuyển hóa thành Gia đình Phật tử. Vào những ngày 24, 25, 26/4/1951, tại Thuận Hóa - Huế, Đại hội Gia đình phật hóa phổ họp tại chùa Từ Đàm gồm đại biểu của 9 tỉnh miền Trung gồm Thừa Thiên, Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Viên, Bình Thuận, Dran, Đồng Nai Thượng và Hà Nội, Hải Phòng. Tại Đại hội này, tên "Gia đình Phật tử Việt Nam" được thay cho Gia đình Phật hóa phổ và một bản Nội quy cũng được ra đời từ đây. Qua 9 lần đại hội từ 1951 - 1973 Gia đình Phật tử VN đã từng bước trưởng thành trong lòng các Giáo hội đương nhiệm, Từ 4 Gia đình Phật hóa phổ đầu tiên tại Huế, lên đến 812 Gia đình Phật tử thuộc 48 tỉnh, thành tại miền Nam, với 7.200 huynh trưởng và 72.600 đoàn sinh (theo báo cáo của Đại hội năm 1973 tại Đà Nẵng). Cuộc họp lịch sử ngày 19/10/1997 tại Thiền viện Vạn Hạnh (Tp.HCM) ra đời một bản thông báo có chữ ký của Hòa thượng Thích Minh Châu và 4 huynh trưởng cấp Dũng gởi đến toàn thể huynh trưởng và đoàn sinh GĐPTVN đề nghị tu chỉnh một số điều trong Nội quy và Quy chế huynh trưởng của GĐPT cho phù hợp với Hiến chương của Giáo hội PGVN. Cũng trong năm này, Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV diễn ra tại Hà Nội, GĐPTVN được chính thức công nhận, ghi vào Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Chương V Điều 19, nay là Điều 21). Năm 1998, GHPGVN thành lập các Ban Hướng dẫn Phật tử từ Trung ương đến các tỉnh, thành. Ngành Cư sĩ phật tử do Chư tăng trực tiếp lãnh đạo, ngành Gia đình Phật tử do Huynh trưởng điều hành theo chủ trương, đường lối của Giáo hội Phật giáo VN (10).

     Nghị định của Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội có ghi rõ tại Điều 1, Khoản 1, điểm b rằng "Nghị định này không áp dụng với các tổ chức: - Các tổ chức giáo hội". Tức là các tổ chức thuộc Giáo hội Phật giáo VN như Gia đình Phật tử và Tịnh độ Cư sĩ không là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định, không cần phải xin phép theo thủ tục thành lập hội của Nghị định này.

- Hướng đạo Công giáo, Hướng đạo Cao đài, Hướng đạo Tin lành: Về mặt pháp lý, một "tổ chức" theo quy định của pháp luật dân sự chỉ được công nhận là có tư cách pháp nhân khi có đủ các điều kiện: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật ( tham chiếu Điều 94 BLDS 1995). Theo đó, dưới chính thể ở miền Nam VN từ 1948 đến 1975, chỉ duy nhất một Hội HĐVN 1953 có tư cách pháp nhân được pháp luật Quốc gia Việt Nam công nhận và được WOSM công nhận tư cách hội viên từ năm 1957. Trong các bản Điều lệ (Quy trình) của Hội HĐVN năm 1953, được sửa đổi năm 1959, năm 1962 và năm 1967 đều có quy định "không phân biệt tôn giáo". Trong tất cả các bản Điều lệ đó đều có một điều khoản ghi: "Hội lấy tên chánh thức là Hội "HƯỚNG ĐẠO VIỆT NAM" viết tắt là "H.Đ.V.N" những chữ "HƯỚNG ĐẠO" trong tên này thuộc sở hữu tuyệt đối của Hội". Và trong tất cả các bản Điều lệ của Hội HĐVN 1953 đều không có một dòng hay một chữ nào về "Hướng đạo Công giáo", "Hướng đạo Cao đài", "Hướng đạo Tin lành". Do đó không có mối liên hệ hoặc mối tương quan pháp lý nào giữa Hội HĐVN 1953 với các tổ chức thuộc các tôn giáo này. Các tôn giáo này nếu tồn tại cái gọi là “Hướng đạo”, trong thực tế thì đó là bộ phận thuộc về các giáo hội chủ quản chớ không phải là một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của Hội HĐVN 1953. Giữa Hội HĐVN 1953 và các Giáo hội Công giáo, Giáo hội Cao đài, Giáo hội Tin lành cũng không hề có một thỏa hiệp gì để xác lập mối liên hệ giữa một tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân là Hội HĐVN và các Giáo hội đó. Việc các cá nhân hoặc tổ chức nào đó tự xưng là "Hướng đạo" + "Tôn giáo" là ngoài phạm vi trách nhiệm pháp lý của Hội HĐVN 1953.

     Xin được lưu ý một vấn đề liên quan như sau: Điều lệ của Hội HĐVN 1953 quy định là "không phân biệt tôn giáo" nên chỉ coi các huynh trưởng và đoàn sinh là "Hướng đạo sinh theo Phật giáo", "HĐS theo Công giáo", "HĐS theo Tin lành", "HĐS theo Cao đài"... và tất cả các hội viên của Hội HĐVN đều sinh hoạt chung với nhau theo cơ cấu tổ chức đã được quy định trong bản Điều lệ chớ không hề phân biệt tôn giáo, không tách riêng từng đơn vị, bộ phận gọi là "Hướng đạo Công giáo", "Hướng đạo Tin lành", "Hướng đạo Cao đài".v.v... Thế nhưng, trong 3 tôn giáo nêu trên chỉ có Giáo hội Công giáo là có công bố một bản "Quy chế Hướng đạo Công giáo Việt Nam" (viết tắt HĐCGVN) được Tổng Giám mục Phao lô Nguyễn Văn Bình phê chuẩn và ban phép thi hành ở Sài Gòn ngày 8/1/1965. Bản Quy chế HĐCGVN này cũng xác định mục đích giáo dục bằng "phương pháp Hướng đạo" nhưng lại xác định thêm tôn chỉ "Phụng sự Thiên Chúa và Giáo hội" và HĐCGVN là hội đoàn phụ tá đứng trong Tổ chức Công giáo tiến hành. Bản Quy chế HĐCGVN đã không tự xây dựng cho mình một cơ cấu tổ chức có hệ thống riêng với lực lượng huynh trưởng và đoàn sinh riêng như bản Nội quy Gia đình Phật tử của Giáo hội Phật giáo VN mà lại tự xác lập cho mình quyền "can thiệp" vào một tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân và có bản Điều lệ được chính quyền phê duyệt là Hội HĐVN, lấy lực lượng đoàn sinh và huynh trưởng có sẵn trong Hội HĐVN làm lực lượng của mình. Xin dẫn chứng từ bản Quy chế HĐCGVN hành vi "vượt quá khôn khổ pháp luật" của Giáo hội Công giáo VN khi ban hành Quy chế đơn phương "chiếm hữu" lực lượng đoàn sinh của Hội HĐVN 1953 mà không dựa trên một căn cứ pháp lý nào cả. Đó là việc trong Quy chế HĐCGVN đã cho mình quyền thành lập các "Đạo" và "Đơn vị" HĐCG từ các đoàn sinh và huynh trưởng đang có sẵn trong Hội HĐVN 1953 khi quy định rằng: "Đạo: Tại mỗi tỉnh hay thành phố lớn, nếu có đủ đơn vị HĐCG hoặc nam hoặc nữ, Văn phòng Trung ương sẽ can thiệp với Bộ Tổng ủy viên của Hội liên quan, để thành lập một Đạo riêng cho HĐCG", và ..." Đơn vị có thể thâu nhận các HĐS ngoài Công giáo, miễn là có sự đồng ý của phụ huynh; các đoàn sinh này không buộc phải dự các lễ nghi Công giáo cũng như các lớp huấn luyện Giáo lý. Số đoàn sinh ngoài Công giáo không được vượt quá 2/5 tổng số. Dĩ nhiên Đơn vị trưởng phải là Công giáo". Quy định như thế trong bản Quy chế HĐCGVN là đi ngược với tôn chỉ "không phân biệt tôn giáo" trong bản Điều lệ Hội HĐVN 1953 và giữa Giáo hội CGVN với Hội HĐVN 1953 cũng chưa từng ký kết một thỏa hiệp gì về việc Hội HĐVN 1953 thừa nhận hay áp dụng bản Quy chế HĐCGVN. Sau nữa, một quy định trong bản Quy chế HĐCGVN có tính chất xâm phạm quyền tự quyết của Hội HĐVN là: "- Khi xảy ra trường hợp một trong hai Hội vi phạm nguyên lý căn bản của Phong trào HĐ, nhất là điều thuộc về Tôn giáo; - Khi xảy ra trường hợp những người lãnh đạo một trong hai Hội có thái độ kỳ thị rõ rệt đối với Tôn giáo hoặc đối với các Trưởng Công giáo có khả năng tham gia Hội đồng Trung ương hay Bộ Tổng ủy viên của Hội đó. Trong hai trường hợp này, HĐCGVN sẽ bày tỏ lập trường và đưa đề nghị để Hội sửa chữa. Nếu không giải quyết xong, lúc đó các đơn vị HĐCGVN sẽ buộc lòng phải tách khỏi Hội". Một bản Quy chế do một tôn giáo ban hành lại tự xác lập cho mình có quyền đơn phương định đoạt việc tách, nhập các đơn vị, việc phong nhậm những trách vụ lãnh đạo của một tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân như Hội HĐVN 1953, bất chấp đến Điều lệ của hội và cả hệ thống pháp luật đương thời bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của hội đó, nghe ra không ổn, không "thượng tôn pháp luật" chút nào (!). Hơn nữa, việc sử dụng giáo quyền để "tách" các hội viên "khỏi" Hội HĐVN 1953 chẳng phải đã xâm phạm đến quyền tự do lập hội mà trong đó bao gồm cả quyền tự do vào hội và quyền tự do ra hội của công dân, thể hiện qua các quy định: "Hội viên ... có quyền ra khỏi hội bất cứ lúc nào" (Điều 3 Dụ số 10) và "Mọi người có quyền tự do vào hội thành lập hợp pháp, và có quyền tự do ra hội. Không ai được xâm phạm quyền lập hội và quyền tự do vào hội, ra hội của người khác" (Điều 2 Sắc lệnh năm 1957)? Dẫu sao, trong văn thư đề ngày 09/10/2003, Đức Cha Phao lô Nguyễn Văn Hòa, Chủ tịch Hội đồng Giám mục VN đã cho biết "Chúng tôi đã chính thức đưa phong trào HĐCGVN vào hoạt động Công giáo tiến hành của Giáo hội VN và Hội đồng Giám mục VN đã chính thức giới thiệu hoạt động của HĐCG trong cuốn Giáo hội Công giáo VN niên giám 2003 của Hội đồng Giám mục VN". Như vậy, từ năm 2003, HĐCGVN đã có thể xây dựng cho mình một cơ cấu, tổ chức riêng, có lực lượng đoàn sinh riêng do mình xây dựng tương tự như Gia đình Phật tử VN. Và cũng tương tự như Gia đình Phật tử VN, HĐCGVN là một hội đoàn phụ tá đứng trong Công giáo tiến hành của Giáo hội Công giáo VN nên không cần phải xin phép theo thủ tục thành lập hội trong Nghị định Chính phủ số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003.

- "Hướng đạo Cảnh sát VN" và "Hướng đạo Quân đội VN":

Lực lượng Cảnh sát và Quân đội dưới chính thể VNCH cũng muốn áp dụng các "hình thức và phương pháp Hướng đạo" để giáo dục con em của họ nên sau năm 1968 đã tự thành lập tổ chức "Hướng đạo" + "Lực lượng" tương tự như trường hợp của các tổ chức tôn giáo. Tất nhiên là với các quy định của pháp luật đương thời và Điều lệ của Hội HĐVN 1953, không hề có mối liên hệ gì giữa Hội HĐVN 1953 vốn là một tổ chức xã hội "phi chính trị" thể hiện trong Điều lệ hết sức minh bạch, với các lực lượng vũ trang thuộc chính thể đó. Và tất nhiên, Hội HĐVN 1953 cũng không thể làm gì được khi các lực lượng Cảnh sát và Quân đội đương thời muốn sử dụng 2 từ "Hướng đạo" ghép chung với tên gọi của tổ chức do các lực lượng này lập ra, tương tự như với trường hợp các tôn giáo ở VN.

III. Các văn bản của tổ chức Đảng CSVN và cơ quan Nhà nước VN đã vượt ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, xâm phạm quyền tự do lập hội của các HĐS Hội HĐVN như thế nào ?

1/ Các văn bản của tổ chức Đảng CSVN:

     a/ Thông báo số 143-TB/TW ngày 20/4/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN:

     Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, thì các huynh trưởng của cả 2 Hội HĐVN 1946 ở miền Bắc và Hội HĐVN 1953 ở miền Nam đều vui mừng chuẩn bị tiến hành thủ tục nộp đơn xin phép thành lập một Hội HĐVN thống nhất trên cả nước. Nhưng trong khi các huynh trưởng HĐVN chưa kịp nộp đơn xin thành lập hội thì ngày 20/4/2004 - tức là chưa tới 9 tháng sau ngày Chính phủ ban hành Nghị định, Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN đã có văn bản số 143-TB/TW chỉ đạo các tổ chức Đảng CSVN và các cơ quan Nhà nước VN thực hiện nhiều biện pháp ngăn cấm các "hoạt động Hướng đạo" và "không đặt vấn đề tái lập tổ chức Hướng đạo, cũng như tránh lập thêm các hội, đoàn mới". Xin trích dẫn nội dung chính yếu trong Thông báo 143-TB/TW ngày 20/4/2004 của Ban Bí thư TW như sau: "Hoạt động Hướng đạo du nhập vào VN từ đầu thế kỷ 20. Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức Hướng đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên VN, trong khi ở miền Nam hoạt động Hướng đạo tiếp tục phát triển và phân hóa, ngoài tổ chức Hướng đạo chính thống, Mỹ ngụy xây dựng các loại Hướng đạo trong tôn giáo, quân đội, cảnh sát... Sau năm 1975 tất cả các tổ chức này mặc nhiên giải thể. Tuy nhiên, những năm gần đây, phong trào Hướng đạo VN nói chung và ở Tp.HCM nói riêng đang tái phát triển một cách tự phát và diễn biến phức tạp. Có nhiều nhóm tổ chức Hướng đạo đang hoạt động, sinh hoạt ngày càng thường xuyên, có nền nếp, bài bản và công khai hơn. Các nhóm Hướng đạo tuy có sự khác nhau, thậm chí mâu thuẫn về quan điểm và đường hướng hoạt động, nhưng đều mong muốn được Nhà nước chính thức cho phép tái lập tổ chức Hướng đạo; cả một số cán bộ, đảng viên trước đây vốn là huynh trưởng Hướng đạo cũng ủng hộ nguyện vọng này. Nhiều nhóm đã liên tục gởi đơn xin phép chính quyền cho phép tái lập, mặt khác không ngừng hoạt động ngầm để phát triển lực lượng một cách tự phát ngoài khuôn khổ pháp luật, chuẩn bị chờ Nhà nước cho phép tái lập. Trong các nhóm Hướng đạo nói trên, ngoại trừ nhóm Hướng đạo chính thống, các hệ phái Hướng đạo khác ở Tp. HCM hiện nay đều có gắn với tôn giáo, tâm linh, hoạt động có tính chính trị. Nhiều tổ chức có quan hệ móc nối với các phần tử phản động và số cầm đầu các nhóm Hướng đạo ở hải ngoại và với tổ chức Hướng đạo thế giới, với sứ quán, lãnh sự quán Mỹ ở VN để tuồn thông tin, vu cáo chế độ ta, xin chỉ đạo và tài trợ cho hoạt động của mình. Các tổ chức Hướng đạo Công giáo, Cao đài, Tin Lành công khai dùng phương pháp hoạt động Hướng đạo để giáo dục tôn giáo, thực hiện tôn chỉ của các giáo hội được các giáo xứ và nhà thờ ủng hộ mạnh mẽ về vật chất và tinh thần..."; "... Hiện nay, ở nước ta đã có nhiều hội, đoàn thể với đối tượng bao gồm mọi giới, mọi lứa tuổi đang hoạt động, nếu chính thức cho tái lập thêm tổ chức Hướng đạo thì sẽ dẫn đến tranh giành lực lượng, tranh giành quần chúng giữa Hướng đạo với các tổ chức đã có và tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng, làm phức tạp thêm tình hình chính trị xã hội. Nếu tổ chức Hướng đạo được tái lập, các hội, đoàn khác như Gia đình Phật tử, Tịnh độ Cư sĩ... cũng đòi hỏi được công nhận thì sẽ rất phức tạp. Vì vậy không đặt vấn đề tái lập tổ chức Hướng đạo, cũng như tránh lập thêm các hội, đoàn mới".

Căn cứ vào Khoản 2, Điều 4 mới được quy định trong Hiến pháp 2013: "Đảng CSVN..., chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình"; và căn cứ vào Khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2010: "Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể", tôi xin trình bày ý kiến phản biện đối với các nội dung trong Thông báo 143-TB/TW như sau:

     - "Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức Hướng đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên VN" : Nội dung này trong Thông báo 143-TB/TW nhằm phủ định sự tồn tại của Hội HĐVN 1946 từ sau ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên VN năm 1957 mà không đưa ra được một căn cứ hay chứng cứ nào để chứng minh cho sự "ngừng hoạt động" của Hội HĐVN 1946. Chúng ta đều biết rằng, trong Luật La Mã đã hình thành nguyên tắc: "Trách nhiệm chứng minh thuộc về người khẳng định, chứ không thuộc về người phủ định" (Ei incumbit probatio qui dicit, non qui negat / The burden of the proof lies upon him who affirms, not he who denies). Nguyên tắc này cũng được quy định tại Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự về "nghĩa vụ chứng minh" và tại Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự về "Xác định sự thật của vụ án" theo đó "trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng...". Do Thông báo 143-TB/TW không nêu ra được căn cứ hay chứng cứ hợp pháp để chứng minh rằng Hội HĐVN 1946 đã "ngừng hoạt động" nên nội dung "Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức Hướng đạo đã ngừng hoạt động" bị coi là lời nói "thất thiệt" cho đến khi Ban Bí thư TW đưa ra được chứng cứ hợp pháp về sự ngừng hoạt động của Hội HĐVN 1946. Thêm nữa, ngay phần nội dung tiếp theo là "...và gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên VN" lại chứng minh sự tồn tại hợp pháp của Hội HĐVN 1946 sau khi đã "gia nhập" Hội LHTNVN. Bởi vì chúng ta đều biết trong Bộ luật dân sự 1995 và Bộ luật dân sự 2005; cũng như trong Nghị định 88/2003 và Nghị định 45/2010 đều có quy định về các trường hợp chấm dứt pháp nhân, chấm dứt hội là: hợp nhất, sáp nhập, chia, giải thể, phá sản. Không thấy có văn bản pháp luật nào quy định rằng một pháp nhân khi "gia nhập" vào một pháp nhân khác lại bị chấm dứt pháp nhân của mình. Có thể đã có sự hiểu sai về khái niệm pháp lý "gia nhập" là đồng nghĩa với "sáp nhập" trong nội dung này của Thông báo 143-TB/TW. Bởi vì, ngay trong Điều lệ của Hội LHTNVN cũng có nói rõ: "Hội LHTNVN là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niêncác tổ chức thanh niên VN..."; trong đó bao gồm 2 loại hội viên là cá nhân "công dân" và "thành viên tập thể của hội". Hội HĐVN 1946 chính là thành viên tập thể của Hội LHTNVN. Chưa cần xem xét đến các chứng cứ khác như Thẻ đại biểu của Hội HĐVN 1946 tham dự Đại hội toàn quốc Hội LHTNVN lần thứ 2 năm 1961 và văn bản của Hội HĐVN 1946 ngày 5/2/1965 đã bác bỏ nội dung này ... Như vậy, ngay trong nội dung "Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức Hướng đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam" của Thông báo 143-TB/TW đã cho thấy không dựa vào một căn cứ hay chứng cứ pháp lý nào để chứng minh cho lời nói này; đó là chưa nói đến các chứng cứ khác đã bác bỏ hoàn toàn nội dung này như: Thẻ đại biểu của Hội HĐVN 1946 tham dự Đại hội toàn quốc Hội LHTNVN lần thứ 2 năm 1961 và văn bản của Hội HĐVN 1946 ngày 5/2/1965 chứng minh sự tồn tại hợp pháp của Hội HĐVN 1946 sau khi gia nhập Hội LHTNVN.

     - "... trong khi ở miền Nam hoạt động Hướng đạo tiếp tục phát triển và phân hóa, ngoài tổ chức Hướng đạo chính thống, Mỹ ngụy xây dựng các loại Hướng đạo trong tôn giáo, quân đội, cảnh sát... Sau năm 1975 tất cả các tổ chức này mặc nhiên giải thể.": Như đã trình bày ở phần trên, ở miền Nam VN chỉ có một Hội HĐVN duy nhất có tư cách pháp nhân được thành lập hợp pháp năm 1953, những loại hình gọi là "Hướng đạo trong tôn giáo" như trong Thông báo 143 đề cập chỉ là sự "ăn theo tiếng thơm" của Hội HĐVN mà thôi. Các tôn giáo ở VN hiện nay, nếu muốn thành lập các hội đoàn tương tự như Hội HĐVN, nay đã có quyền thành lập hội đoàn cho riêng mình theo quy định tại Khoản 6, Điều 3 của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18/6/2004 mà không cần phải làm thủ tục xin phép theo Nghị định của Chính phủ số 88/2004/NĐ-CP ngày 30/7/2004. Chỉ có những loại hình "HĐ Cảnh sát" và "HĐ Quân đội" mang tính chất chính trị ngay trong tên gọi là trái với tôn chỉ "phi chính trị" của Hội HĐVN 1953 nên mới "mặc nhiên giải thể" cùng với lực lượng cảnh sát và quân đội của chính thể VNCH sau năm 1975. Do đó, Thông báo 143 nói rằng "Sau năm 1975 tất cả các tổ chức này mặc nhiên giải thể" bao gồm cả Hội HĐVN 1953 là cố ý quy chụp theo kiểu "vơ đũa cả nắm" chớ không dựa trên căn cứ hoặc chứng gứ hợp pháp nào cả.

     - "Trong các nhóm Hướng đạo nói trên, ngoại trừ nhóm Hướng đạo chính thống, các hệ phái Hướng đạo khác ở Tp. HCM hiện nay đều có gắn với tôn giáo, tâm linh, hoạt động có tính chính trị. Nhiều tổ chức có quan hệ móc nối với các phần tử phản động và số cầm đầu các nhóm Hướng đạo ở hải ngoại và với tổ chức Hướng đạo thế giới, với sứ quán, lãnh sự quán Mỹ ở VN để tuồn thông tin, vu cáo chế độ ta, xin chỉ đạo và tài trợ cho hoạt động của mình. Các tổ chức Hướng đạo Công giáo, Cao đài, Tin Lành công khai dùng phương pháp hoạt động Hướng đạo để giáo dục tôn giáo, thực hiện tôn chỉ của các giáo hội được các giáo xứ và nhà thờ ủng hộ mạnh mẽ về vật chất và tinh thần...". Nội dung này của Thông báo 143 đã đề cập đến trường hợp những hành vi, của những cá nhân nào đó lợi dụng danh nghĩa của tổ chức hoặc phe nhóm vi phạm pháp luật quốc gia hoặc xâm phạm an ninh quốc gia. Đây chỉ là những lời quy chụp chính trị cho Hội HĐVN mà thôi chớ chúng ta đều biết rằng trong Bộ Luật hình sự của nước CHXHCNVN có quy định về "Cơ sở của trách nhiệm hình sự" tại Điều 2 như sau: "Chỉ người nào phạm một hay nhiều tội đã được Bộ Luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". Tức là trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng cho cá nhân, cho "người nào", chớ pháp nhân như Hội HĐVN không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong Phong trào Hướng đạo VN từ sau 1975 đến nay, chưa nghe đến trường hợp có một Hướng đạo sinh nào, bao gồm huynh trưởng và đoàn sinh, bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì "hoạt động Hướng đạo" như Thông báo 143 đề cập. Cũng theo quy định của Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"; và trong thực tế, chưa nghe nói đến trường hợp một HĐS nào của Hội HĐVN 1953 sau năm 1975 đã bị kết án do hành vi như được mô tả trong Thông báo 143.

     - "Hiện nay, ở nước ta đã có nhiều hội, đoàn thể với đối tượng bao gồm mọi giới, mọi lứa tuổi đang hoạt động, nếu chính thức cho tái lập thêm tổ chức Hướng đạo thì sẽ dẫn đến tranh giành lực lượng, tranh giành quần chúng giữa Hướng đạo với các tổ chức đã có và tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng, làm phức tạp thêm tình hình chính trị xã hội. Nếu tổ chức Hướng đạo được tái lập, các hội, đoàn khác như Gia đình Phật tử, Tịnh độ Cư sĩ... cũng đòi hỏi được công nhận thì sẽ rất phức tạp. Vì vậy không đặt vấn đề tái lập tổ chức Hướng đạo, cũng như tránh lập thêm các hội, đoàn mới". Luận cứ trong nội dung này của Thông báo 143 là hoàn toàn không chính xác và mâu thuẫn ngay với chính mình. Xin được dẫn chứng: Ở phần đầu Thông báo 143 xác định rằng "Hoạt động Hướng đạo du nhập vào VN từ đầu thế kỷ 20" ... và Phong trào Hướng đạo đã hoạt động liên tục từ đầu thế kỷ 20 cho đến đầu thế kỷ 21 là ngày có Thông báo 143 (20/4/2004); vậy sao có thể nói rằng "nếu cho tái lập thêm tổ chức Hướng đạo thì sẽ ... tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng"? Còn Gia đình Phật tử và Tịnh độ Cư sĩ đã hoạt động hợp pháp trong Giáo hội Phật giáo VN từ năm 1997-1998  với Quy chế riêng, được ghi vào Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Chương V Điều 19, nay là Điều 21), sao Thông báo 143  lại nêu ra trường hợp này một cách bất cập như vậy? Còn nếu căn cứ vào thông tin báo Pháp luật Tp.HCM đăng tải tại trang 3, ngày 5/12/2013 về số lượng "hội quần chúng" mà Bộ Nội vụ đã rà soát được vào cuối năm 2013: "Kết quả rà soát của Bộ Nội vụ cho thấy cả nước hiện có 460 hội hoạt động ở phạm vi toàn quốc, hơn 2.900 hội hoạt động ở phạm vi tỉnh, gần 5.200 hội quy mô huyện và hơn 28.300 hội cấp xã. Trong số này, khá nhiều tổ chức là do Đảng thành lập hoặc chỉ đạo thành lập, được giao thực hiện các nhiệm vụ chính trị-xã hội, có tham gia vào xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật..." (11), thì lập luận trong Thông báo 143 rằng "nếu chính thức cho tái lập thêm tổ chức Hướng đạo thì sẽ dẫn đến tranh giành lực lượng, tranh giành quần chúng giữa Hướng đạo với các tổ chức đã có và tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng, làm phức tạp thêm tình hình chính trị xã hội" sẽ là một lập luận hoàn toàn không có căn cứ và trái với sự thật khách quan.

     Tóm lại, cùng chung số phận với nhân dân và đất nước Việt Nam từ 1945 đến 1975, Hội HĐVN đã từng bị chia cắt làm hai và có cơ hội hợp nhất sau ngày đất nước thống nhất năm 1975. Các huynh trưởng của Hội HĐVN đã nhiều lần gửi đơn, thư, kiến nghị đến lãnh đạo tổ chức Đảng CSVN và cơ quan Nhà nước VN trong suốt hơn 20 năm để xin phép tái lập hội. Nhưng trước nguyện vọng chính đáng và hợp pháp đó của các huynh trưởng HĐVN, Đảng CSVN và Nhà nước VN đều không thèm trả lời. Tình hình này cũng đã được Thông báo 143-TB/TW ngày 20/4/2004 xác nhận "Nhiều nhóm đã liên tục gởi đơn xin phép chính quyền cho phép tái lập, mặt khác không ngừng hoạt động ngầm để phát triển lực lượng một cách tự phát ngoài khuôn khổ pháp luật, chuẩn bị chờ Nhà nước cho phép tái lập". Đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30/7/2003 Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội thì Ban Bí thư TW đã nhanh chóng (chỉ hơn 8 tháng sau) đưa ra Thông báo 143-TB/TW thể hiện ý chí, động cơ không chính đáng, trái với sự thật khách quan và trái pháp luật là không muốn "tạo ra tiền lệ đa nguyên trong tổ chức quần chúng". Thông báo 143 đã đưa ra lý do giả tạo, không có căn cứ và chứng cứ hợp pháp về trường hợp Hội HĐVN 1946 là "Từ sau kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc tổ chức Hướng đạo đã ngừng hoạt động và gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên VN". Thông báo 143 cũng đã đưa ra những quy chụp chính trị chớ không chứng minh được là đã có hành vi vi phạm pháp luật gì của tổ chức xã hội "không hoạt động và cổ động chính trị" là Hội HĐVN 1953 ở miền Nam. Từ đó, Thông báo 143 đã có quyết định: "Vì vậy không đặt vấn đề tái lập tổ chức Hướng đạo, cũng như tránh lập thêm các hội, đoàn mới"; và chỉ đạo các tổ chức Đảng CSVN và cơ quan Nhà nước VN thực hiện quyết định này: "Giao Ban Dân vận Trung ương theo hướng trên đây chủ trì, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc VN, Bộ Nội vụ, các đoàn thể, ban ngành có liên quan và cấp ủy của các địa phương có các tổ chức Hướng đạo đang hoạt động chuẩn bị đề án tổng thể để giải quyết vấn đề này trình Ban Bí thư vào cuối quý II năm 2004". Nội dung "giải quyết vấn đề này" trong Thông báo 143 bao hàm ý nghĩa "ngăn cấm, xóa bỏ hoạt động Hướng đạo", tức là "xâm phạm quyền tự do lập hội của HĐS Việt Nam" được quy định trong Hiến pháp, các văn bản pháp luật của VN và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966. Do đó, căn cứ vào quy định của Luật tố tụng hành chính tại Điều 3 và Điều 5, coi Thông báo 143-TB/TW là một "quyết định hành chính" và các cá nhân, tổ chức là các Hướng đạo sinh và Hội HĐVN được quyền khởi kiện vụ ánh hành chính đối với Thông báo 143-TB/TW để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo Luật tố tụng hành chính. Ngoài ra, Điều 7 Sắc lệnh 102 năm 1957 và Điều 129 Bộ luật hình sự cũng quy định "Người nào xâm phạm đến quyền lập hội..." hoặc "Người nào có hành vi cản trở công dân thực hiện quyền lập hội...", tức là có bao gồm cả những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức ...đã làm ra các quyết định hành chính xâm phạm đến quyền lập hội của công dân, cản trở công dân thực hiện quyền lập hội, có thể bị truy tố trước Tòa án theo Điều 7 Sắc lệnh 102 năm 1957 hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 129 BLHS.

     b/ Thông báo số 157-TB/TW ngày 20/5/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN:

     Sau 4 năm chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các đoàn thể quần chúng triển khai thực hiện chủ trương trong Thông báo 143-TB/TW ngày 20/4/2004 của Ban Bí thư TW. "Tuy nhiên, việc thực hiện chủ trương trên vẫn còn nhiều hạn chế", "việc giải quyết vấn đề Hướng đạo chưa mang lại kết quả như mong muốn" nên Ban Bí thư TW tiếp tục có Thông báo số 157-TB/TW ngày 20/5/2008 để chỉ đạo "Ban cán sự đảng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Dân vận Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN, Đoàn Thanh niên CS HCM, các đoàn thể, ban, ngành có liên quan và các tỉnh ủy, thành ủy có hoạt động Hướng đạo, lập kế hoạch cụ thể thực hiện chủ trương không tái lập tổ chức Hướng đạo". Trong Thông báo số 157-TB/TW ngày 20/5/2008 Ban Bí thư TW chỉ đạo 7 nội dung, riêng nội dung thứ 4 là rất đặc biệt, xin được trích dẫn:

"4- Đoàn Thanh niên Công sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, rèn luyện thanh niên, thiếu niên, nhi đồng; tiếp thu có chọn lọc hình thức, phương pháp của Hướng đạo trong giáo dục và tổ chức hoạt động của thanh thiếu niên; đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng, chính đáng về sinh hoạt vui chơi, giải trí lành mạnh, bổ ích, thu hút thế hệ trẻ tham gia vào các hoạt động của tổ chức đoàn, hội, đội".

     Nội dung số 4 Thông báo 157 là một sự công nhận của Ban Bí Thư TW rằng Hội HĐVN đã sở hữu một "hình thức và phương pháp giáo dục" vô cùng bổ ích cho thanh thiếu niên, cần phải đưa vào áp dụng trong hoạt động của tổ chức đoàn, hội, đội. Tuy nhiên, bên cạnh việc lập lại chỉ đạo các tổ chức đảng, các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tiếp tục thực hiện những hành vi cản trở, xâm phạm đến quyền lập hội của HĐS VN như tại Thông báo 143 trước, trong Thông báo 157 này còn cho thấy một việc làm rất đáng chê trách về mặt đạo lý; đó là việc làm tương tự như trong "câu chuyện tham lam và độc ác giết con gà hàng xóm, mổ bụng lấy trứng vàng đặt vào bụng gà nhà mình". Đã từng có "tiền lệ" là các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo, Cao đài, Tin Lành và các lực lương chính trị như Cảnh sát, Quân đội dưới chính thể VNCH cũng "tiếp thu hình thức, phương pháp Hướng đạo trong giáo dục và tổ chức hoạt động của thanh thiếu niên" trong tôn giáo và lực lượng của mình nhưng không có tôn giáo hay lực lượng nào đòi "cắt cổ, mổ bụng" Hội HĐVN để lấy "trứng vàng" cả.

     Nhân đây, xin được trình bày thêm về cái gọi là "phương pháp Hướng đạo". Trong bản "Dự thảo Điều lệ Hội HĐVN" (14/02/2014) do một số huynh trưởng HĐVN biên soạn, đã định nghĩa về "Phương pháp Hướng đạo" như sau:

"Phương pháp Hướng đạo là một hệ thống tự giáo dục tiến bộ bằng cách:

   - Giữ Lời hứa và Luật Hướng đạo.

   - Học hỏi bằng thực hành.

   - Tổ chức theo hàng đội tự quản dưới sự hướng dẫn của huynh trưởng để biết dấn thân, khám phá tiến bộ và nắm được các kỹ năng sống; biết phát huy chí khí, tính tự lực và tinh thần trách nhiệm; biết tạo lập sự tin cậy, khả năng hợp tác và lãnh đạo.

   - Tham gia những sinh hoạt hào hứng theo sở thích bằng các trò chơi ngoài trời tiếp xúc với thiên nhiên, những hoạt động hữu ích cho cộng đồng, những công tác xã hội thiện nguyện."

Trong "Phương pháp Hướng đạo" bao gồm 2 nguyên tắc quan trọng, thể hiện trong "Lời hứa Hướng đạo" và "Luật Hướng đạo" là:

   - Nguyên tắc "Bổn phận đối với tha nhân" (Duty to others) được thể hiện trong một phần của Lời hứa: "Giúp ích mọi người bất cứ lúc nào".

   - Nguyên tắc "Bổn phận đối với bản thân" (Duty to self) được thể hiện trong 10 điều Luật Hướng đạo nhưng đặc biệt nhất là Điều số 10: "Hướng đạo sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói đến việc làm."

"Phương pháp Hướng đạo" có những tính chất rất đặc biệt mà không một tổ chức nào khác trên thế giới có được từ trước đến nay. Tuy nhiên, với nguyên tăc "Giúp ích mọi người bất cứ lúc nào" nên Hội HĐVN luôn luôn hoan nghênh các tổ chức khác áp dụng "hình thức, phương pháp Hướng đạo" để giáo dục và tổ chức hoạt động của thanh thiếu niên trong tổ chức mình. Hội HĐVN chưa bao giờ thể hiện sự "độc quyền chân lý" và ngăn cản các tổ chức khác áp dụng các "hình thức và phương pháp Hướng đạo" của hội mình.

     c/ Bản Kế hoạch số 47-KH/TU ngày 20/4/2009 của Thành ủy Tp.Hồ Chí Minh:

     Lý do Thành ủy TP.HCM lập ra bản Kế hoạch - dài 4 trang giấy, được nêu ra ngay ở phần đầu là "Để nghiêm túc triển khai thực hiện Thông báo số 157-TB/TW ngày 20/5/2008 của Ban Bí thư TW về hoạt động Hướng đạo hiện nay tại một số tỉnh, thành phố...". Có nhiều nội dung được ghi trong bản Kế hoạch của Thành ủy bao gồm công tác phổ biến, quán triệt và biện pháp tổ chức thực hiện Thông báo số 157-TB/TW ngày 20/5/2008 mà tôi không thể kể hết ra đây được nên chỉ xin nêu ra nội dung đặc biệt tại Khoản 3.3 và 2.4 trong bản Kế hoạch này tương tự như câu chuyện giết con gà của người khác lấy trứng vàng đưa vào bụng gà mình như sau:

     - "3.3 Thành đoàn tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn TNCS HCM, Hội LHTN, Đội Thiếu niên TP HCM. Tiếp thu có chọn lọc hình thức, phương pháp Hướng đạo... Tiếp tục xây dựng, phát huy, nhân rộng mô hình Câu lạc bộ Sao Bắc Đẩu từ thành phố đến các quận, huyện".

     Câu lạc bộ Sao Bắc Đẩu được Thành đoàn Tp.HCM lập ra có hình thức sinh hoạt và đồng phục không khác gì với các đơn vị Hướng đạo Hội HĐVN. Các em trong Câu lạc bộ Sao Bắc Đẩu được công khai sinh hoạt trong các công viên, các địa điểm công cộng từ thành phố đến các quận, huyện; được ngân sách hổ trợ kinh phí hoạt động.

     - Trong khi đó: "2.4 Đối với các tôn giáo có tổ chức Hướng đạo, các chức sắc tôn giáo phụ trách các liên đoàn, Hướng đạo Công giáo, giao Sở Nội vụ (Ban Tôn giáo - Dân tộc) nắm tình hình và vận động, giải thích, đấu tranh". Ở đây, xin được nêu ra trường hợp cụ thể của Đạo Xuân Hòa thuộc Hội HĐVN, được thành lập từ năm 1957, là đơn vị Đạo trong Châu Gia Định. Từ 1975 đến 1980, Đạo Xuân Hòa tạm ngưng hoạt động nhưng từ 1980, Đạo Xuân Hòa là đơn vị đầu tiên phục hoạt dưới sự hướng dẫn của Đạo trưởng Trần Văn Hợp. Trong Đạo Xuân Hòa có số đông đoàn sinh và huynh trưởng theo đạo Công giáo nên thường sinh hoạt "chui" trong các cơ sở tôn giáo để tránh sự xua đuổi của chính quyền. Trưởng Trần Văn Hợp đã từng bị chính quyền, công an mời lên "đấu tranh" gần cả chục lần về các "hoạt động Hướng đạo". Xin được trích dẫn biên bản cuộc họp ngày 23/4/2004 tại Giáo xứ Tân Định, Quận 3, Tp.HCM, để có thể thấy được phần nào hình ảnh các em Hướng đạo sinh theo đạo Công giáo bị chính quyền "đấu tranh" qua lời của một nữ huynh trưởng HĐ và một Linh mục huynh trưởng HĐ thuộc Gia đình Hướng đạo Xuân Hòa:

"Trưởng Võ Thị Thanh Thủy: Chúng con đại diện cho Đạo Biển Đông rất đồng tình với Trưởng Đức và Trưởng Hiến. Chúng con thấy rằng chúng con sinh hoạt rất là khổ sở, có những lúc chúng con phải chui vào nhà cốt để sinh hoạt. Phải mặc thường phục, thậm chí phải chế ra các loại áo thung thêu hoa Bách hợp nho nhỏ. Chúng con chơi trong các giáo xứ được các cha xứ ủng hộ."

     "Linh mục Trần Văn Hộ: ... Các nơi chơi lén, như Liên đoàn của chị Tâm sinh hoạt tại giáo xứ Hòa Bình của tôi tại khu vườn ngoài nghĩa địa, nhưng tôi nhắc chị Tâm nếu cho các em đeo phù hiệu thì tôi biết ăn nói làm sao, còn chơi cứ việc chơi. Nhưng chị Tâm nói, thỉnh thoảng phải làm như vậy các em mới thích. Nói vậy chứ tôi vẫn ủng hộ. Thực tế tôi cũng bị mời làm việc để hỏi tôi có phải Tuyên úy HĐ không. Tôi vẫn trả lời có, và tôi cũng nói cho họ biết tôi đã tham dự lễ truy điệu cụ Hoàng Đạo Thúy, Đại tá Quân đội Cụ Hồ là một Trưởng cao cấp trong Hội HĐVN." (12)

     Chắc rằng trong số trên 200 tổ chức Hướng đạo thuộc các quốc gia, vùng, lãnh thổ trên thế giới, không có nơi nào mà các em HĐS "phải chui vào nhà cốt để sinh hoạt" hoặc "chơi lén ngoài nghĩa địa" của các giáo xứ, nhờ sự che chở của các cha xứ và phải hóa trang "mặc thường phục, thậm chí phải chế ra các loại áo thung thêu hoa Bách Hợp nho nhỏ" (hoa Bách Hợp là huy hiệu chính thức của Hội HĐVN) ! Trong trả lời của Linh mục Trần Văn Hộ, có nhắc đến "cụ Hoàng Đạo Thúy, Đại tá Quân đội Cụ Hồ là một Trưởng cao cấp trong Hội HĐVN" nhưng không thấy nêu ra tên vị "DANH DỰ HỘi TRƯỞNG" Hội HĐVN, vì sợ phạm húy chăng ?

     Đọc hết nội dung bản Kế hoạch dài 4 trang ngày 20/4/2009 của Thành ủy Tp.HCM nhằm "xóa sổ" hoạt động Hướng đạo trên địa bàn dễ tạo cảm giác "dùng dao mổ trâu để giết gà". Và mặc dù phải chịu đựng bao hệ quả khắc nghiệt của các Thông báo và Kế hoạch của tổ chức Đảng CSVN, con gà Phong trào HĐVN vẫn sống sót, được các quốc gia thuộc ASEAN mời tham gia thành lập Hội Hướng đạo các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN Scout Association for Regional Co-operation ( viết tắc ASARC). Trưởng Phạm Thanh Hiệp đã đại diện cho HĐVN cùng ký tên với 7 đại diện của các Hội Hướng đạo quốc gia trong khu vực ASEAN trên bản Hiến chương ngày 4/12/2010 của ASARC. Do Phong trào HĐVN chưa được chính quyền VN cấp phép hoạt động chính thức nên Phong trào HĐVN chỉ được ASARC công nhận tư cách là "Quan sát viên" (Observer) mà thôi. (13)

2/ Các văn bản của cơ quan Nhà nước Việt Nam:

     a/ Văn bản số 1507/BVHTTDL-TCCB ngày 17/5/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: (14)

     Đây là một "quyết định hành chính" theo quy định của Luật tố tụng hành chính, khi Bộ VHTT&DL trả lời bác Đơn xin phép cho tiếp tục phục hồi "chơi Hướng đạo" - tức là tái lập Hội HĐVN, do ông Đặng Văn Việt nộp cho Bộ VHTT&DL. Nội dung lý do bác đơn của Bộ VH,TT&DL là: "Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có thông báo về hoạt động Hướng đạo hiện nay tại một số tỉnh, thành phố và chỉ rõ: 'không đặt vấn đề tái lập tổ chức Hướng đạo cũng như thành lập thêm các hội, đoàn mới'. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông báo để ông biết".

Bất cứ ai đọc nội dung văn bản trả lời của Bộ VHTT&DL cũng đều nhận thấy là Bộ VHTT&DL đã không biết hoặc không cần biết đến Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác quy định về "quyền tự do lập hội" mà công dân Đặng Văn Việt được bảo hộ. Bộ VHTT&DL cho thấy chỉ viện dẫn Thông báo của Ban Bí thư TW Đảng CSVN là đủ. Văn bản trả lời của Bộ VHTT&DL mặc định rằng Thông báo của Ban Bí thư TW Đảng CSVN có hiệu lực pháp lý cao hơn Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nước CHXHCNVN quy định quyền tự do lập hội của công dân Đặng Văn Việt.

     Từ ngày Bộ VHTT&DL ra "quyết định hành chính" này (17/5/2011), không thấy ông Đặng Văn Việt nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính của Bộ VHTT&DL bác đơn xin tái lập Hội HĐVN của ông; bao hàm cả Thông báo của Ban Bí thư TW được Bộ VHTT&DL viện dẫn làm căn cứ pháp lý trong văn bản của mình. Đây cũng là lần đầu tiên, một cơ quan cấp Bộ chính thức đưa ra một quyết định hành chính về việc "xin tái lập Hội HĐVN" mà chỉ viện dẫn một Thông báo của Ban Bí thư TW Đảng CSVN vượt ra ngoài "khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" để làm căn cứ cho quyết định hành chính của mình.

     b/ Văn bản số 164/SNV-VP ngày 08/02/2013 của Sở Nội vụ Tp.Hồ Chí Minh: (15)

     Đây cũng là một "quyết định hành chính" theo quy định của Luật tố tụng hành chính, theo đó, Sở Nội vụ Tp.HCM trả lời bác đơn xin thành lập "Hội Hướng đạo sinh thành phố Hồ Chí Minh" của ông Phạm Thanh Hiệp. Nội dung lý do bác đơn của Sở Nội vụ Tp.HCM là: "vì hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều tổ chức hoạt động của giới trẻ như Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên, Hội Sinh viên".

Với lý do nêu ra để bác đơn của Sở Nội vụ Tp.HCM hẳn là mỗi người đều có thể tự đưa ra những "phản biện" rất thú vị. Ở đây, xin nêu ra vài điểm đáng lưu ý:

     - Ông Phạm Thanh Hiệp và Phong trào HĐVN có thể được các nước ASEAN chấp nhận tham gia ASARC với tư cách "Quan sát viên" nhưng vẫn không được Sở Nội vụ Tp.HCM cho phép lập hội vì xét thấy không cần một tổ chức như Hội Hướng đạo sinh cho thanh thiếu niên thành phố do ông Hiệp đứng xin thành lập.

     - Cho dù "Kết quả ra soát của Bộ Nội vụ cho thấy cả nước hiện có 460 hội hoạt động ở phạm vi toàn quốc, hơn 2.900 hội hoạt đông ở phạm vi tỉnh, gần 5.200 hội quy mô huyện và hơn 28.300 hội cấp xã" nhưng trong số "hơn 2.900 hội hoạt động ở phạm vi tỉnh", Sở Nội vụ Tp.HCM vẫn không tìm thấy còn chỗ trống cấp phép cho "Hội Hướng đạo sinh Tp.HCM" của ông Phạm Thanh Hiệp (!). Cho dù ông Hiệp có viện dẫn đến vị "DANH DỰ HỘI TRƯỞNG" Hội HĐVN trong đơn và những điều tốt đẹp mà hoạt động Hướng đạo đã đóng góp vào việc giáo dục thanh thiếu niên kể từ khi "du nhập vào VN từ đầu thế kỷ 20" khi chưa có Đoàn TNCSHCM, nhưng Sở Nội vụ Tp.HCM vẫn trả lời ông Hiệp là "hết vé".

     Cũng giống như trường hợp ông Đặng Văn Việt, sau khi bị bác đơn, ông Phạm Thanh Hiệp không "kiện cáo" gì với quyết định hành chính của Sở Nội vụ Tp.HCM mặc dù Luật tố tụng hành chính có quy định quyền khởi kiện vụ án hành chính của công dân Phạm Thanh Hiệp trong trường hợp bị bác đơn này.

     Trên đây là khảo cứu của một cựu Hướng đạo sinh Hội HĐVN về những khía cạnh pháp lý và lịch sử liên quan đến Hội Hướng đạo Việt Nam từ khi được thành lập chính thức năm 1946 đến nay nhằm có thể tìm thấy được sự thật khách quan cho câu hỏi làm tựa đề bài viết: "Quyền tự do lập hội của các Hướng đạo sinh Việt Nam bị xâm phạm như thế nào ?"

(11/2014)

NL

---------------------------------------

(1) Hồ Chí Minh toàn tập / tập 4, trang 573 - Thư gửi Hội trưởng Hội HĐVN của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Hồ Chí Minh ngày 31/5/1946 nhận làm Danh Dự Hội Trưởng cho Hội HĐVN.

(2), (3), (4) Theo wikipedia tiếng Việt.

(4) Trích dẫn Điều thứ 1 trong bản Điều lệ (Quy trình) của Hội HĐVN.

Đại hội Hội LHTNVN.

(5) Tập tài liệu "Văn thư - Văn bản kiến nghị phục hoạt Hướng đạo Việt Nam từ năm 1975 - 2012", từ trang 64 đến 74 (Phan Đức Đô sưu tập biên soạn).

Tác giả gửi BVN